Chân dung Tô Bá Ngọc

Vừa bước chân lên sân nhà thờ tổ họ Tô, chúng tôi may mắn được gặp toàn bộ Hội đồng gia tộc dòng họ. Anh Tô Hồng Hải, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An, một hậu duệ họ Tô, cũng từ tỉnh về quê dịp này lo việc họ. Vừa tham quan nhà thờ, chúng tôi vừa trò chuyện thân tình. Tô Hồng Hải không giấu niềm tự hào khi kể về những đóng góp to lớn của dòng họ anh từ trong lịch sử xa xưa cho đến ngày nay đối với đất nước.

 Tác giả cùng hậu duệ điền chủ Tô Bá Ngọc.

Nhắc về danh nhân Tô Bá Ngọc, anh Hải nói: “Cụ là một tấm gương yêu nước, tiết tháo, bất khuất, chấp nhận hi sinh cả cơ nghiệp lớn cho phong trào Cần Vương, cho nghĩa quân Phan Đình Phùng và Nguyễn Xuân Ôn. Trước khi bị giặc xử bắn vì ủng hộ nghĩa quân, cụ vẫn gửi lời nhắn nhủ cháu con về tấm lòng trung trinh với dân, với nước! Là hậu duệ của Tô Bá Ngọc và liệt tổ liệt tông họ Tô, chúng tôi rất tự hào về các bậc tiền nhân của mình!”. Từ những câu chuyện của anh Tô Hồng Hải và các hậu duệ họ Tô, chúng tôi có thêm nhiều tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Tô Bá Ngọc. 

Cụ Tô có tên thật là Tô Viết Trác, sinh năm 1838 tại làng Đông Yên, tổng Vân Tụ (nay thuộc xã Vân Tụ, tỉnh Nghệ An). Ông là con của cụ Tô Viết Hiệu và cụ Nguyễn Thị Mỹ, trong một gia đình điền chủ có tiếng trong vùng. Khi Tô Viết Trác tròn 20 tuổi (1858) cũng là năm thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.

Triều đình nhà Nguyễn dưới sự trị vì của vua Tự Đức đã từng bước nhượng bộ và đầu hàng quân giặc với các hiệp ước Hác-măng (25-8-1883) và Pa-tơ-nốt (6-6-1884), đất nước Việt Nam chia thành ba kỳ, chịu sự bảo hộ của thực dân Pháp. Đất nước rơi vào tay giặc, bản thân lại không thể làm gì để nhân dân thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than, Tô Bá Ngọc chỉ biết hy vọng trở thành một điền chủ để có điều kiện giúp đỡ quân lương cho các phong trào kháng Pháp sau này.

Câu chuyện về Tô Bá Ngọc tiếp tục khi chúng tôi có mặt ở nhà thờ họ Tô, (phái 1, chi 3) với sự góp chuyện của anh Tô Viết Thành, phái trưởng, người được dòng họ giao trông coi việc chăm sóc nhà thờ cụ Tô. Theo lời anh Thành, nhờ sự thông minh, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó, nỗ lực không ngừng của bản thân, khi Phong trào Cần Vương chống Pháp nổ ra, Tô Bá Ngọc đã trở thành một điền chủ có tiếng giàu có. Theo tư liệu dòng họ, Tô Bá Ngọc có “ruộng đất đến hàng mấy trăm mẫu, trâu bò hàng ngàn con… Đi thăm đồng, thăm đàn trâu, bò chăn thả trên đồi, ông phải đi ngựa”.

Cụ Tô tính tình cởi mở, đối đãi với mọi người rộng lượng, nhân hậu, luôn giúp đỡ người nghèo. Quan lại địa phương và nhân dân trong vùng ai cũng nể trọng. Nói về tinh thần nghĩa hiệp và thương dân của Tô Bá Ngọc, theo tài liệu lưu trữ tại nhà thờ, cụ Phan Đình Phùng đã nhận xét: “Những anh em con cháu, ai túng thiếu ông đều giúp, giống như phép nhà của Trương Công Nghệ và Trần Cảnh ngày xưa. Làng xóm có người nghèo cần xin giúp đỡ, ông đều cho tiền, gạo. Gặp nạn mất mùa, được ông cứu đói cho làng”.

Dốc cơ nghiệp nuôi nghĩa quân

Trong những năm tháng TS Nguyễn Xuân Ôn dấy binh theo chiếu Cần Vương, để có một căn cứ địa vững chắc giúp nghĩa quân có thể hoạt động lâu dài, cụ Nghè đã quyết định chuyển căn cứ lên khu vực miền núi phía Tây Yên Thành. Theo tư liệu của Bảo tàng Nghệ An, thời gian này, Nguyễn Xuân Ôn đã nghe nói tới Tô Bá Ngọc, vị điền chủ ở Đông Yên giàu có, nghĩa hiệp, giàu lòng yêu nước. Nghè Ôn liền cho người thân tín đến gặp họ Tô để nhờ giúp đỡ lương thực cho nghĩa quân. Vốn nghe tiếng cụ Nghè là người cương trực, học rộng, lại đứng lên khởi nghĩa chống Pháp, Tô Bá Ngọc hết sức cảm phục và sẵn lòng hưởng ứng.

Điền chủ Tô Bá Ngọc từng hiến cho phong trào Cần Vương hàng trăm mẫu ruộng.

Cụ Tô đã tiếp đãi tử tế người của cụ Nghè và nói rằng: “Các ngài làm việc nghĩa cử, Tô tôi đâu có dám tiếc gì. Quan trên cần những gì, Tô đây xin vui lòng, dù phải bán cả gia tài”. Cảm phục tinh thần nghĩa hiệp của Tô Bá Ngọc, cuối năm 1886, cụ Nghè Ôn đã đích thân đến thăm nhà và lưu lại tại từ đường họ Tô để tìm hiểu và chọn vùng đất Đông Yên làm căn cứ thu giấu quân lương phục vụ cho cuộc khởi nghĩa. Lúc bấy giờ, Tô Bá Ngọc muốn xin cụ Nghè được theo nghĩa quân đánh Pháp, song cụ Nghè Ôn cười và nói rằng: “Ông Tô làm quân thì chỉ là người lính tồi, để ông làm tướng thì chưa biết thế nào. Nhưng nuôi quân, nuôi tướng thì sức ông có thừa”. Tô Bá Ngọc coi đó là lời giáo huấn sâu sắc, từ đó toàn tâm toàn ý giúp đỡ nghĩa quân về mặt hậu cần.

Để tập trung quân lương cho phong trào đánh Pháp của nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn, Tô Bá Ngọc không những đem nhiều lương thực và tiền của ra ủng hộ mà còn vận động nhiều người tham gia. Lịch sử Nghệ An (tập 1) ghi: "Hàng năm thuế nạp cho triều đình thì Tô Bá Ngọc viện cớ dây dưa, chậm trễ, nhưng đến mùa gặt hái xong, cụ lại chở thóc lúa mang tiền bạc cho nghĩa quân và mỗi khi nghe tin thắng trận, đều cho người dắt trâu, bò, gánh gạo, nếp, lợn, gà để khao quân…”.

Sử cũng ghi lại, mùa Xuân năm Đinh Hợi (1887), nhằm liên kết với các cuộc khởi nghĩa đang nổ ra ở phía Bắc, đồng thời tìm sự hỗ trợ và củng cố thêm lực lượng, tháng 2-1887, Phan Đình Phùng đã giao toàn quyền lãnh đạo căn cứ Hương Khê cho Tướng quân Cao Thắng để du hành ra Bắc nhằm liên kết với các vị thủ lĩnh kháng Pháp khác. Phan Đình Phùng tìm gặp Nguyễn Xuân Ôn đang lập căn cứ tại vùng đất phía Tây Yên Thành. Sau khi gặp Nghè Ôn, cụ Phan được nghĩa quân mời bí mật nghỉ ngơi tại nhà Tô Bá Ngọc, để tiện cho việc liên lạc với các tướng Bố Việm, Lãnh Ngợi, Đốc Nhoạn, Đề Niên, Hiệp Trần, Tá Hai…

Bên cạnh đó, Phan Đình Phùng cũng muốn “nhờ Tô Bá Ngọc một tay” trong sự nghiệp phục quốc của mình. Được sự giúp đỡ của Tô Bá Ngọc, cụ Phan đã lưu lại nhà thờ họ Tô một thời gian để nghiên cứu tình hình, gia nhập thêm các nghĩa tướng, chuẩn bị cơ sở, nghe ngóng nhân tâm, sau đó sẽ khuyếch trương căn cứ địa kháng chiến ra khắp vùng Nghệ Tĩnh.

Theo ông Tô Sỹ Giơu, cháu nội của cụ Tô Bá Ngọc, trong thời gian cụ Phan lưu trú tại nhà cụ Ngọc, thể hiện sự tôn kính của mình với bề trên, cụ Ngọc đã thu xếp cho cụ Phan ở trong ngôi từ đường của dòng họ để tiện tiếp xúc, tránh sự dòm ngó của mật thám Pháp. Cụ Ngọc xem Đình nguyên Phan Đình Phùng là thượng khách, hàng ngày qua lại cùng bàn việc nước, đàm đạo văn chương như hai người tri kỷ.

Tại đây, vì cảm kích tấm lòng của vị điền chủ, cụ Phan đã đổi tên Tô Viết Trác thành Tô Bá Ngọc. Ở nhà Tô Bá Ngọc một thời gian, Phan Đình Phùng phải ra xứ Thanh gặp Tống Duy Tân, rồi sau đó tiếp tục ra Bắc. Tô Bá Ngọc xin theo, nhưng khi lên đến huyện Đô Lương, cụ Phan khuyên cụ Tô nên quay lại, để giúp đỡ ông trong việc liên hệ với các tướng lĩnh đang hoạt động trong vùng và chuẩn bị quân lương cho cuộc kháng chiến lâu dài. Nghe lời khuyên của cụ Phan, Tô Bá Ngọc trở về Đông Yên tính mưu toan việc lớn. Trước khi lên đường ra Bắc, cụ Phan Đình Phùng đã không quên để lại di bút bày tỏ lòng tri ân và ngưỡng mộ Tô Bá Ngọc…

Nhưng chỉ một thời gian sau khi cụ Phan ra Bắc, ngày 28-5-1887 âm lịch, quân Pháp đã cho lính đến nhà vây bắt điền chủ Tô Bá Ngọc, tịch thu toàn bộ gia sản. Sau đó, bọn chúng đem cụ đi xử bắn tại đồn chợ Rỏi, thuộc tổng Vân Tụ để thị uy dân chúng. Trước khi ra pháp trường, Tô Bá Ngọc đã dặn các con: “Đời cha chẳng có gì đáng hận, các con hãy coi tiền tài như phấn thô, đạo ngãi tựa ngàn vàng. Giang sơn đã về tay kẻ khác, còn gì thánh đạo nho phong, còn gì cương thường nhân nghĩa, hãy ăn ở làm sao cho trong sạch, đừng làm những điều điếm nhục tổ tiên. Lúc này việc nước trọng, việc nhà nhỏ. Cụ Phan có trở lại, hãy cho cha gửi lời bái biệt!”. Cụ còn dặn thêm: “Cha sống theo nghĩa Cần Vương, nay chết, cha muốn mang theo hơi ấm của thủ lĩnh Cần Vương, các con hãy lấy chiếu hoa vắt trên nhà mà bó thi hài của cha, vì chiếu đó còn mang hơi ấm của cụ Nghè Ôn và cụ Đình Nguyên ngồi bàn việc lớn…”.

Năm 1900, trên nền đất cũ, con cháu đã dựng một ngôi nhà thờ để thờ cụ Tô Bá Ngọc và phối thờ cụ Phan Đình Phùng, cụ Nguyễn Xuân Ôn. Ngày 13-6-2013, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 2452/QĐ.UBND, công nhận nhà thờ Tô Bá Ngọc là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh. Tại di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật giá trị, đặc biệt là bức trướng ghi lại di bút của Phan Đình Phùng viết tặng Tô Bá Ngọc trong thời gian lưu lại nhà thờ họ Tô. Ngôi mộ vị điền chủ yêu nước cũng được cháu con tôn tạo uy nghi và hương khói phụng thờ… 

(Còn nữa)