Các nhà văn liệt sĩ đã để lại không chỉ sự tiếc thương vô hạn mà còn là những khát vọng sáng tạo trao truyền cho thế hệ sau. Điều đó đã trở thành nguồn sáng, ngọn lửa cháy bền bỉ, dẫn dắt các thế hệ văn nghệ sĩ vào chiến trường, cầm súng và cầm bút, chiến đấu và sẵn sàng hy sinh, để lại những tác phẩm văn chương báo chí hữu ích cho công cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, nền tảng để một Việt Nam phát triển khang trang, vững chắc như hôm nay. Đó là niềm tự hào lớn của đội ngũ văn nghệ sĩ trong các cuộc chiến tranh vệ quốc.
Trên các vùng đất Điện Biên, chúng tôi vẫn cảm nhận được dấu tích mà các nhà văn làm báo ở chiến trường thông qua lời kể của các nhân chứng lịch sử. Có nhà văn chính là nhân chứng mà tôi từng được tháp tùng lên Điện Biên. Đó là nhà thơ Lê Kim, ông nổi tiếng với những câu thơ bộ đội từng truyền tụng trong kháng chiến chống Pháp: Ba thằng một cái chăn bông/ Nằm thẳng cũng khổ, nằm cong cũng phiền/ Đắp dọc thì hở hai bên/ Đắp ngang thì lạnh như tiền cái chân (Nửa đêm).
 |
| Các nhà văn Quân đội sau năm 1975. |
Đặc biệt, Lê Kim còn làm thơ tuyên truyền ngay tại trận địa: Điện Biên Phủ bị ta vây chặt/ Các thứ Tây đều mất tinh thần/ Có thằng lính ngụy than thân/ Điện Biên Phủ biến thành âm phủ rồi (Điện âm phủ). Năm 2004 chúng tôi mời Lê Kim với tư cách nhân chứng lịch sử lên làm giao lưu truyền hình tại Điện Biên. Lê Kim dí dỏm mà sâu sắc luôn biết chọc cười khán giả. Trên chiến hào Đồi A1, tôi từng trêu Lê Kim: “Ôi trời bác Lê Kim! Trông bác cứ như một tên lính Pháp vừa thoát ra khỏi hầm hào Điện Biên Phủ. Có lẽ nào câu chuyện chiến binh Nhật sống mấy chục năm ở đảo hoang không tin Nhật hoàng đã đầu hàng nay lại xuất hiện nơi hầm hào Điện Biên thế này!”. Lê Kim nheo mắt cười nói mấy câu tiếng Pháp rồi giơ hai tay có vẻ đầu hàng khiến ai nấy cười vang. Lê Kim rất giỏi tiếng Pháp. Từ nhỏ ông đã được học hành chu đáo từ bậc tiểu học ở quê tỉnh Bắc Ninh đến trường Bưởi danh tiếng Hà Nội. Ông có vốn tiếng Pháp thành thạo và sau này còn sử dụng thêm tiếng Anh. Lê Kim nổi tiếng từ rất sớm. Năm 1948, ở tuổi hai mươi, ông đã có tập thơ "Đời cứ tươi" xuất bản tại Quân khu Việt Bắc được lưu truyền rộng rãi trong các đơn vị bộ đội và nhân dân với các bài thơ cổ vũ lòng yêu nước và căm thù giặc. Chính các tác phẩm văn chương báo chí tại Điện Biên đã như những luồng đạn đại liên bắn thẳng vào cứ điểm giặc góp phần làm nên chiến thắng.
Nhà văn Hồ Phương, trong các lần ông trò chuyện với chúng tôi mỗi khi nhắc đến những ngày làm báo Quân tiên phong trong kháng chiến chống Pháp đều dí dỏm nói: “Cánh tớ ngày ấy báo chí văn chương cũng hoắng lắm. Cỡ báo tường, báo liếp vậy mà đi lấy tin viết bài tiếng ta tiếng tây cứ loạn xị. Các thủ trưởng cũng nể nang ra phết mà anh em chiến sĩ anh cũng tranh nhau đọc”. Tôi nhìn vào mắt thủ trưởng Hồ Phương thấy hình như có giọt nước đang rịn ra. Hồ Phương nổi tiếng rất sớm với tác phẩm "Cỏ non" đã được đưa vào sách giáo khoa. Song một tác phẩm khác của ông cũng rất đáng kể, đó là "Thư nhà" viết năm 1948 khi chàng lính Hồ Phương mới 18 tuổi. Hồ Phương sau Chiến dịch Điện Biên Phủ được điều về Tổng cục Chính trị với nhiệm vụ viết văn và tham gia thành lập Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ông ở một mạch từ đó tới lúc nghỉ hưu năm 1993, gần 40 năm cũng là người có thời gian công tác lâu nhất ở cơ quan.
Sau này, mỗi khi tới dịp ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6, nhà văn Hồ Phương luôn nhắc anh em ở Văn nghệ Quân đội đi đặt bài, viết chân dung, khơi gợi những kỷ niệm về các nhà văn làm báo ở chiến trường. Điều đó càng cho thấy, với thế hệ nhà văn chống Pháp và cả sau này nữa, văn chương báo chí luôn là món ăn tinh thần hết sức quan trọng. Nhà văn Hồ Phương kể lại cho chúng tôi nhiều câu chuyện rất xúc động về thực tiễn chiến đấu hết sức gian khổ của bộ đội và đóng góp của thơ văn, báo chí trong đời sống tinh thần thời kỳ đó. Có những câu chuyện ông kể, hàng chục năm sau vẫn còn như mới mẻ để chúng tôi sáng tác thơ văn. Đó là bài thơ "Chuyện ở dốc Pha Đin" về anh lính hậu cần trẻ măng trước giờ nổ súng đã mát tay đón cặp trẻ sinh đôi: Anh lính trẻ măng má lấm vệt nhọ nồi/ Chân tay như thừa ra bên người mẹ trẻ/ Bỗng trong đùm váy nâu tiếng oe oe em bé/ Hai người loay hoay cắt rốn cho em… Đặt hai bé sinh đôi trong lòng chảo xong xuôi/ Anh lính khẽ nhoẻn cười bên người mẹ trẻ/ Mấy cánh rừng ngoài xa bạt ngàn hoa ban nở/ Có cánh rơi vào đậu trên chảo anh nuôi.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là tại Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, thơ văn, nhất là báo chí luôn là một trong những thứ vũ khí rất quan trọng. Báo Quân đội nhân dân khi đó đã tổ chức xuất bản 33 số báo ngay tại chiến hào Điện Biên, đã trở thành một trong những dấu mốc lịch sử của báo chí cách mạng Việt Nam.
Nhà thơ - nhà báo - liệt sĩ Thâm Tâm nổi tiếng với "Tống biệt hành", ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Thâm Tâm tham gia văn hóa Cứu quốc, ở trong Ban biên tập Báo Tiên phong (1945-1946), sau đó ông nhập ngũ, làm thư ký tòa soạn Báo Vệ quốc quân (tiền thân của Báo Quân đội nhân dân). Ông hy sinh ngày 18-8-1950 trên đường đi công tác trong Chiến dịch Biên giới tại bản Pò Noa, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Khi nhà thơ Thâm Tâm hy sinh, nhân dân ở đây vô cùng thương tiếc đã cùng với đồng đội tổ chức mai táng nhà thơ tại nơi ông đã hy sinh. Nhà thơ Vũ Cao, người bạn thân thiết của Thâm Tâm đã có bài viết kể lại sự hy sinh của nhà thơ rất chân thực và xúc động. Sự hy sinh của các nhà văn, nhà thơ làm báo ở chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Pháp luôn là những ký ức sâu đậm còn mãi tới hôm nay.
Năm 1950, nhà thơ Thâm Tâm đi Chiến dịch Biên giới tham gia làm báo tại mặt trận. Chính từ thực tiễn chiến trường, trực tiếp xuống tới từng tổ ba người, Tiểu đội, Trung đội mà nhà thơ - nhà báo Thâm Tâm đã có những tác phẩm văn chương báo chí khá đặc sắc phục vụ tại trận cho bộ đội như: Đại đội Kim Sơn (truyện ký, 1948); Chiều mưa Đường số 5 (thơ, 1948); Văn thơ bộ đội (tiểu luận, 1949). Thâm Tâm không những là một nhà thơ có nhiều tác phẩm viết về bộ đội mà ông còn là một nhà báo, một Thư ký tòa soạn giàu kinh nghiệm. Những số báo Vệ quốc quân thời kỳ Thâm Tâm làm Thư ký tòa soạn vẫn được các nhà báo thế hệ sau ông đánh giá cao.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã có phần công sức của giới văn nghệ sĩ, báo chí với các tác phẩm trực tiếp viết về bộ đội, viết về cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ của quân và dân ta. Đội ngũ văn nghệ sĩ trực tiếp ra mặt trận trong đó có các nhà văn làm báo tại mặt trận đã cho thấy sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhiệt huyết và khát vọng cống hiến của văn nghệ sĩ với Tổ quốc, với nhân dân, với công cuộc kháng chiến. Đây cũng chính là một trong những nền tảng góp phần làm nên chiến thắng.