Hào khí Nghè Ôn trên đất Đồng Thông
Mảnh đất phía Tây huyện Yên Thành (cũ) của tỉnh Nghệ An ngày xưa là chốn hoang vu, rừng thiêng nước độc. Đất nước rơi vào tay giặc, Nguyễn Xuân Ôn, vị Tiến sĩ triều Nguyễn đã chối bỏ vinh hoa, từ đường hoạn lộ, tập hợp đoàn nghĩa binh lập căn cứ chống Pháp xâm lược. Đại nghiệp không thành, cụ Nghè bị giặc bắt, nhiều tướng sĩ hy sinh, nhưng cuộc khởi nghĩa kéo dài trong ba năm (1885-1888) đã ghi dấu trên trang sử dân tộc một điểm son chói lọi.
Đêm ngủ lại xóm Trại Mắt trong ngôi nhà của ông Đặng Trọng Hữu sát bên đền Nước Nhỉ, nơi thờ Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn và các nghĩa sĩ cuộc khởi nghĩa Đồng Thông. Sáng ra, chúng tôi đi thăm dấu tích đại bản doanh của vị chủ tướng và các địa danh trong hệ thống bố phòng căn cứ cuộc khởi nghĩa, nay thuộc xã Quang Đồng (Nghệ An). Năm tháng đi qua, cảnh sắc đã nhiều thay đổi, cả một vùng chiến địa năm xưa nay là xóm làng trù phú, ruộng đồng sinh khí tốt tươi.
 |
Núi Vũ Kỳ - một ngọn núi gắn với nhiều sử liệu của khởi nghĩa Đồng Thông.
|
Đã trải 141 năm từ ngày cụ Nghè Ôn theo chiếu Cần Vương tập hợp đoàn nghĩa binh dựng cờ chống giặc, cũng đã 137 năm cụ giã biệt thế gian, mà linh khí của người “muôn năm cũ” như còn phảng phất giữa một vùng non nước nơi này. Đâu đây như còn nghe vang vọng lời thề uy linh của bậc đại sĩ phu trước cờ nghĩa Cần Vương, vẫn còn dậy lên tiếng trống trận rền vang, tiếng ngựa hí, quân reo và cả những tiếng thét đau thương, máu chảy, đầu rơi. Cuộc chiến không cân sức, giặc trang bị súng to, đạn lớn; ta chỉ là những người dân ấp, dân lân ăn đói mặc rách, chỉ có súng hỏa mai, giáo gươm, gậy gộc. Cuộc khởi nghĩa thất bại sau ba năm tướng sĩ kề vai đánh giặc. Hoa cỏ, núi non nơi đây sau hơn một thế kỷ như vẫn còn nhuốm màu bi thương khi nơi này đã có biết bao nghĩa binh chịu nát thịt, tan xương cho đại nghĩa dân tộc. Chúng tôi đi giữa vùng chiến địa năm xưa trong buổi sáng mưa dầm, giá rét, càng ngấm sâu hơn dòng hoài cảm về một thời đã xa, về những người đã qua.
Trước cảnh sắc chứa nhiều cảm xúc, câu thơ cổ vang lên trong tâm khảm: "Thế sự du du nãi lão hà/ Vô cùng thiên địa nhập hàm ca/ Thời lai đồ điếu thành công dị/ Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”. Những câu thơ trong bài “Thuật hoài” của chí sĩ Đặng Dung vào thời Đại Việt vong quốc trước quân Minh xâm lược cũng có thể là tâm trạng của cụ Nghè Ôn và các tướng sĩ của ông thời vận nước suy vong. Ngay như Nguyễn Xuân Ôn, vị đại nho cũng gửi lại đời sau những vần thơ chứa đầy cảm khái đau thương, thời cả vua lẫn tôi lâm vào cảnh nhục: “Tích niên thử địa tác qua liêu/ Kim niên thử địa tác quan tù/ Chỉ duyên viêm bức giai vương thổ/ Huống phục y quan thị để châu.” (Năm xưa làm quan ở đất này/ Năm nay ngồi tù cũng ở đây/ Đến cả cõi bờ cũng không còn đất vua/ Huống chi áo mũ của chốn cũ triều đình)…
Dòng ký ức trên vùng đất khởi nghĩa
Người nông dân tên Đặng Trọng Hiểu đang cuốc đất giữa ruộng chỉ tay ra nương ngô xanh rờn, và nói: “Đó là nơi ngày xưa cụ Nghè Ôn dựng cột cờ nghĩa và đặt đại bản doanh”.
Theo hướng chỉ tay của ông Hiểu, chúng tôi men theo con đường lầy lội giữa ruộng để được đặt chân lên dấu thiêng thuở trước. Chỗ mô đất có hình vuông và nổi lên cao giữa ruộng này chính là nơi ngày xưa chủ tướng Nguyễn Xuân Ôn và các tướng dưới quyền ông như Lê Doãn Nhã, Trần Quang Diệm, Đinh Nhật Tân, Nguyễn Nguyên Thành, Lê Trọng Vinh, Nguyễn Văn Ngợi… họp bàn việc quân, xướng họa những vần thơ yêu nước. Chỗ kia là bãi luyện binh, hướng nọ là doanh trại, rồi kho lương thực, vũ khí, trại nhốt ngựa và các chòi quan sát. Đằng xa, núi Vũ Kỳ hiện lên như dáng con rồng lượn bay giữa một vùng đất đai tốt tươi, bằng phẳng.
Trong núi có một hang đá sâu, nơi chứa nhiều bí mật và cả những giai thoại dân gian về cụ Nghè Ôn cùng cuộc khởi nghĩa vẫn được kể đến tận bây giờ. Vòng quanh căn cứ là xóm Hố, là các làng Đồng Bản, Vũ Kỳ, Trại Mắt; xa hơn là Diễn Thái, Vạn Phần, Hoàng Mai, Mã Thành, Tràng Thành, Minh Thành, Lý Thành… Xưa, các điền chủ và người dân các làng này đã bí mật cung cấp hậu cần cho cuộc khởi nghĩa; cũng là những chiến địa mà nghĩa quân Nghè Ôn từng giao chiến sống mái với kẻ thù. Sử còn ghi, sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, giặc cho quân về đốt phá các xóm làng, tàn sát người dân, cho đến mãi hàng chục năm sau bà con mình mới gượng dậy, gây dựng lại quê hương từ đổ nát, đau thương. Cũng có những nghĩa binh lưu tán khắp nơi tìm về vùng chiến địa xưa để tìm kế sinh nhai, bí mật phụng thờ chủ tướng và các vị nghĩa sĩ trận vong, những người mà họ từng sát cánh kề vai chiến đấu.
 |
| Nơi đặt đại bản doanh cuộc khởi nghĩa năm xưa. |
Đứng giữa trung tâm căn cứ Đồng Thông, chúng tôi chiêm ngắm toàn cảnh núi non, làng xóm và liên tưởng về mảnh đất này ở một thời vận nước suy vong. Chợt nghĩ, làm sao mà chủ tướng Nguyễn Xuân Ôn và những nghĩa binh của cụ, một đoàn quân khoảng 2.000 người vốn là nông phu không biết binh thư, chẳng rành binh pháp với vũ khí thô sơ có thể dám đương đầu giặc Pháp khi chúng được trang bị tối tân. Nhưng lại nghĩ, cũng chính từ những ngày tháng bi tráng ấy, có những con người liệt oanh như thế thì mới có thêm những trang sử vàng bất diệt trong lịch sử dân tộc.
Dù chỉ mượn núi làm thành, lấy sông làm hào, gọi nông làm binh, nhưng họ đã khơi dậy tinh thần yêu nước, thương dân, tạo nguồn cảm hứng tuyệt vời cho đời sau quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm, dựng nền độc lập. Cũng bởi lẽ vậy mà suốt hơn 141 năm qua, ở vùng quê thượng du Yên Thành này đã bao phủ một màn sương huyền thoại. Dân gian truyền tụng rất nhiều những câu chuyện linh thiêng về cụ Nghè Ôn, về các tướng sĩ của cuộc khởi nghĩa. Trong những ngày chúng tôi về viếng ngôi đền Nước Nhỉ, thờ chủ tướng Nguyễn Xuân Ôn và các nghĩa sĩ, bà con xóm Trại Mắt (xã Quang Đồng) vẫn tiếp tục kể những câu chuyện lưu truyền từ thuở ông cha như chưa hề đứt mạch. Chính những huyền thoại ấy, cùng với ý thức gìn giữ ký ức lịch sử của những người nông phu đã trở thành một dòng cảm thức vẹn tròn đạo lý trong quá trình lưu giữ những giá trị lịch sử, bồi đắp sức sống trường tồn về những con người bất diệt ở những thời khắc nước nhà trải cơn binh lửa, can qua…
Ngắm thêm một lần lèn Vũ Kỳ và toàn cảnh căn cứ địa Đồng Thông năm xưa giữa vùng đất Quang Đồng (huyện Yên Thành cũ), chúng tôi cảm nhận không khí linh thiêng bao trùm lên vùng quê sơn cước. Chúng tôi trò chuyện với những người nông dân đang làm cỏ lúa trên ruộng, hỏi chuyện các cháu bé vừa tan học về. Chúng tôi rảo chân lên những ngõ xóm và sà vào một cách tự nhiên với những hiên nhà thơm mùi chè xanh, phả khói thuốc lào, râm ran chuyện trò về dòng sử cũ. Âm thanh cuộc sống thật vui. Tất cả những người hậu thế mà chúng tôi gặp đều khắc trong tâm, ngay trên chính vùng quê của họ, có một thời cụ Nghè Ôn và tướng sĩ tụ nghĩa bốn phương quyết một lòng đối đầu giặc dữ. Việc lớn không thành nhưng ngài và những bậc sĩ phu yêu nước đương thời đã thể hiện một ý chí chống giặc ngoại xâm đến cùng, ghi lại những trang vàng chói lọi trên pho sử dân tộc. Trong cảm xúc đó, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình để tìm hiểu tiếp về những nhân vật từng kề vai sát cánh bên cụ Nghè Ôn. Họ đã sống một đời oanh liệt và ngã xuống trước súng đạn, trước những ngón đòn tra tấn tàn bạo của kẻ thù trong những tháng ngày nước mất, nhà tan đầy bi tráng ấy…
|
Lương giang Tướng công Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889) đậu Tiến sĩ khoa thi năm 1871, được bổ làm quan dưới triều Tự Đức. Thực dân Pháp xâm lược nước ta, vua quan nhà Nguyễn đầu hàng giặc. Cũng như nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ không chịu khuất phục kẻ thù, không chịu nỗi nhục mất nước, cụ Nghè Ôn đã bỏ quan trường về quê dựng cờ khởi nghĩa theo lời hiệu triệu Cần Vương của vua Hàm Nghi vào mùa đông năm 1885. Các bạn đồng hương và đồng liêu như Lê Doãn Nhã, Trần Quang Diệm, Đinh Nhật Tân, Nguyễn Nguyên Thành, Nguyễn Văn Ngợi, Nguyễn Hành… nhất tề cùng cụ Nghè Ôn tụ nghĩa, đánh Pháp.
Cuộc khởi nghĩa Cần Vương Bắc Nghệ Tĩnh (hay còn gọi là khởi nghĩa Đồng Thông) dưới lá cờ Nguyễn Xuân Ôn (1885-1888) là một điểm sáng hòa cùng cao trào chống Pháp xâm lược của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX. Chỉ trong vòng ba năm, dưới sự lãnh đạo của cụ Nghè Ôn, nghĩa binh đã đánh thắng nhiều trận giòn giã như trận Yên Lý, Cửa Lộng, Đồm Mờm, Hoa Thành, Bảo Nham, Nghĩa Hưng, Vạn Phần… Năm 1887, chủ tướng Nguyễn Xuân Ôn bị trọng thương rồi sa vào tay giặc, khiến phong trào lâm vào khủng hoảng. Dù nghiệp lớn bất thành nhưng tinh thần khởi nghĩa Đồng Thông do Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn lãnh đạo đã tạo nguồn cảm hứng yêu nước, căm thù giặc, củng cố niềm tin mãnh liệt cho đời sau đánh đuổi kẻ thù, dựng nền độc lập…
|
(còn nữa)