Mốc chủ quyền trên đảo Hòn Hải

Với Đại tá Lê Đình Tân, nguyên Cục trưởng Cục CTQP (Binh chủng Công binh), tham gia làm chủ nhiệm đồ án, thực hiện khảo sát, thiết kế và xây dựng phương án thi công công trình tại điểm cơ sở A6 trên đảo Hòn Hải, thuộc huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận trước đây (nay thuộc đặc khu Phú Quý, tỉnh Lâm Đồng), là kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Tuy đã nghỉ hưu hơn 10 năm, nhưng mỗi lần nhắc lại, ông vẫn vẹn nguyên niềm tự hào về những tháng ngày dầm mưa dãi nắng trên đảo. Không chỉ bởi quy mô, công trình còn gắn với ý nghĩa đặc biệt và những khó khăn mà người lính công trình phải vượt qua.

Đoàn công tác Bộ Quốc phòng nghiệm thu, khảo sát địa hình, địa chất trên đảo Hòn Hải năm 1999. Ảnh do đơn vị cung cấp

Qua câu chuyện của Đại tá Lê Đình Tân, chúng tôi hiểu thêm ý nghĩa của điểm cơ sở A6 trên đảo Hòn Hải, một trong 11 điểm từ A1 đến A11 nêu trong Tuyên bố của Chính phủ về đường cơ sở năm 1982. Theo Luật Biển Việt Nam, lãnh hải của nước ta rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển; vùng đặc quyền kinh tế tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải, hợp với lãnh hải thành vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Chủ quyền đối với lãnh hải và quyền chủ quyền, quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế có chế độ pháp lý khác nhau. 11 điểm cơ sở nói chung và Điểm cơ sở A6 trên đảo Hòn Hải nói riêng có vị trí chiến lược quan trọng, khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Qua những bức ảnh Đại tá Lê Đình Tân cung cấp, Hòn Hải như một con cá voi khổng lồ nhô giữa biển. Cách đảo Phú Quý khoảng 38 hải lý về phía Đông Nam, đảo có vách đá dựng đứng nên việc tiếp cận rất khó khăn. Theo lời ông kể, từ năm 1999, cơ quan CTQP cùng các đơn vị liên quan đã khảo sát, thăm dò địa chất để triển khai dự án và hoàn thành công trình vào năm 2006. Đằng sau những dấu mốc ấy là bao công sức tìm đường lên đảo và tìm phương án thi công phù hợp với địa hình, địa chất đặc thù.

Đại tá Lê Đình Tân nhớ lại, để khảo sát trên đỉnh Hòn Hải, đoàn công tác phải làm thang bằng ống thép, bắt vào vách đá, bên ngoài có lưới bảo vệ. Những ngư dân giàu kinh nghiệm đi biển đã phối hợp với các lực lượng trèo vách, cắm neo, lắp thang. Sau hơn hai tuần, đoàn mới mở được lối lên đỉnh. Lúc ấy tất cả thành viên đoàn khảo sát đều vỡ òa cảm xúc. Và rồi hơn hai tuần tiếp theo nằm lại trên đảo để khoan thăm dò địa chất... Nói thế để thấy mỗi bước tiến của công trình đều bắt đầu từ những công việc nhọc nhằn như thế.

Vì sao phải làm hầm xuyên lòng đảo thay vì mở đường men theo sườn núi? Tôi hỏi và được Đại tá Lê Đình Tân giải thích, vách đá cao, dựng đứng, nguy cơ đá rơi cùng sóng lớn và đá ngầm dưới chân đảo khiến việc mở đường bên ngoài tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn rất cao. Mặt khác, nơi đây có cấu tạo địa chất hình thành từ tro núi lửa phun trào, giống như than đá, dai nhưng lại yếu, xốp, cấu tạo địa chất rất dễ sụt, sạt, nên hầm đào đến đâu là phải bơm bê tông ngay đến đấy. Theo hồi ức của ông, khi đào hầm, các lực lượng phải xử lý kết cấu bảo vệ kịp thời, phù hợp với điều kiện địa chất. Không gian chật hẹp, thiết bị được cải tiến để đưa bê tông vào ván khuôn. Có đường lên đỉnh, việc vận chuyển vật liệu, xây dựng các hạng mục tiếp theo mới thuận lợi hơn.

Pháo đài thép giữa trùng khơi

Khó khăn trên Hòn Hải phần nào cho thấy những thử thách thường xuyên đối với người lính công trình. Nhiều công trình chiến đấu nằm ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi địa hình hiểm trở, địa chất phức tạp. Vận chuyển lực lượng, phương tiện, vật tư đã khó, tổ chức thi công càng khó hơn, đòi hỏi phải tính toán kỹ từng phương án để bảo đảm an toàn cho người, phương tiện và chất lượng công trình. Những năm gần đây, trang bị, phương tiện thi công tuy được bổ sung nhưng chưa đồng bộ, đòi hỏi các đơn vị tiếp tục cải tiến kỹ thuật, nâng cao mức độ cơ giới hóa để giảm sức lao động, đáp ứng yêu cầu thi công trong điều kiện khó khăn.

 Binh chủng Công binh kiểm tra công trình của Quân khu 7, năm 2005. Ảnh do đơn vị cung cấp

Mới đây, có dịp đi công tác, chúng tôi ấn tượng trước sự đổi thay của nhiều đảo xa. Hệ thống cầu cảng cùng các công trình phục vụ sinh hoạt, công tác từng bước được xây dựng, củng cố, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ của các lực lượng, cải thiện đời sống quân và dân trên các đảo. Góp vào sự đổi thay ấy là công sức của đội ngũ khảo sát, thiết kế, cán bộ quản lý kỹ thuật và những người trực tiếp thi công.

Giữa đại dương mênh mông, đối mặt với bão dông, thiếu thốn về cơ sở vật chất, bộ đội công trình vác từng bao xi măng, cõng từng can nước ngọt, chắt chiu vật liệu để dựng xây những công trình bền vững. Trong hành trình gian khổ ấy, cán bộ, kỹ sư Cục CTQP luôn “đi trước, về sau”: Đi trước để khảo sát, thăm dò địa chất, nghiên cứu phương án thiết kế; về sau để tiếp tục kiểm tra, hướng dẫn kỹ thuật, tham gia các khâu nghiệm thu theo chức trách. Mỗi công trình hoàn thành là kết quả phối hợp bền bỉ của nhiều lực lượng.

Đại tá Nguyễn Đức Tài, Cục trưởng Cục CTQP kể, những năm đầu xây dựng công trình giữa trùng khơi, phương tiện đi lại, thông tin liên lạc còn rất khó khăn. Có kỹ sư ở đảo hằng năm trời để khảo sát địa chất, phục vụ thiết kế. Không gian làm việc chật hẹp, thời tiết khắc nghiệt, sinh hoạt thiếu thốn, nhiều khâu phải làm thủ công. Chính trong điều kiện ấy, kinh nghiệm và sáng kiến của người lính công trình được tích lũy, góp phần tạo nên những điểm tựa vững chắc cho nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo.

“Xẻ núi, cắt rừng” mở đường trù phương lược

Đường tuần tra biên giới thường được gọi là “con đường trù phương lược”, gắn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với phát triển kinh tế-xã hội vùng biên. Ngày 14-3-2007, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 313/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Quy hoạch xây dựng đường tuần tra biên giới đất liền giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo. Đến nay, hàng nghìn ki-lô-mét đường đã được mở, tạo thêm điều kiện tuần tra, quản lý biên giới và phục vụ nhu cầu đi lại, sản xuất, phát triển kinh tế của nhân dân khu vực biên giới.

Ở công trình này, Cục CTQP tham gia nhiều khâu, từ nghiên cứu hướng tuyến, góp ý dự án, thiết kế đến hướng dẫn, kiểm tra kỹ thuật, chất lượng theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Mỗi phương án phải phù hợp quy hoạch, điều kiện địa hình và yêu cầu quản lý, bảo vệ biên giới; kết hợp hiệu quả quốc phòng với phát triển kinh tế-xã hội.

Địa hình thi công đường tuần tra biên giới rất khó khăn, hiểm trở, núi cao, dốc lớn, địa chất phức tạp, khí hậu khắc nghiệt...  Nhắc lại những ngày rong ruổi trên công trường, Đại tá Nguyễn Đức Tài không quên sự vất vả, hiểm nguy mà những đồng đội của anh phải vượt qua. Ký ức về những chuyến khảo sát giữa mưa rừng, những đợt sạt lở khiến giọng anh chùng xuống.

Anh Tài nhớ mãi một đêm đông lạnh giá năm 2008, khi cùng đoàn công tác kiểm tra dự án đường tuần tra biên giới ở khu vực A Pa Chải (Điện Biên). Sương đọng trên lá, trên mái lán rồi nhỏ xuống tong tong như mưa. Bộ đội ở trong những căn lán vách tre, mái lá; quần áo, chăn màn lúc nào cũng ẩm ướt. Đêm ấy, đoàn công tác cùng anh em quây quần bên bếp lửa, trò chuyện đến sáng. Nghe những câu chuyện làm đường nơi biên giới, các thành viên trong đoàn càng thấm thía nỗi vất vả của bộ đội. Anh Tài xúc động nói: “Đêm ấy, chúng tôi không ai ngủ. Hay đúng hơn là không ai ngủ được vì thương anh em quá”.

Theo anh Tài, từ ý tưởng đến khảo sát, lập dự án, thiết kế, một tuyến đường phải qua nhiều bước kiểm tra, rà soát, thẩm định. Có lúc, Cục CTQP bị cho là quá “kỹ tính” với từng đoạn kè, mái taluy, rãnh thoát nước. Nhưng chỉ một khâu làm ẩu, hậu quả khó lường hết được. Trên biên giới, yêu cầu kỹ thuật còn gắn với bảo vệ đường biên, mốc quốc giới và dòng chảy sông, suối. Sự chặt chẽ vì thế bắt đầu từ trách nhiệm với từng công trình, từng tấc đất biên cương.

Anh kể về lần thẩm định một tuyến đường qua vùng núi thuộc tỉnh Hà Giang trước đây (nay là tỉnh Tuyên Quang). Đơn vị tư vấn đề xuất làm cống tròn để giảm chi phí, nhưng qua nghiên cứu thực địa, anh nhận thấy nguy cơ khi có mưa lũ sẽ cuốn đất, đá gây tắc dòng, phá nền đường. Anh kiên quyết yêu cầu nghiên cứu lại khẩu độ thoát nước, lựa chọn kết cấu cầu, cống và giải pháp gia cố phù hợp. Đằng sau sự “kỹ tính” ấy là mong muốn công trình bền vững, bộ đội và nhân dân đi lại an toàn.

7 thập kỷ qua, cán bộ, kỹ sư Cục CTQP đã in dấu chân trên rất nhiều tuyến đường, hầm ngầm, bến vượt, cầu cảng, sân bay... khắp các miền đất nước. Từ trái tim đất nước lên núi rừng biên giới đến biển, đảo tiền tiêu, từng công trình âm thầm bồi đắp thế trận quốc phòng toàn dân, góp phần giữ bình yên cho Tổ quốc.

(còn nữa)