Tôi đến thăm ông đúng vào bữa cơm trưa. Mâm cơm giản dị của gia đình người thương binh vừa dọn ra, khói còn nghi ngút tỏa hương thơm của gạo quê, bỗng có tiếng gọi cửa dồn dập, lo lắng. Một đôi vợ chồng trẻ, mặt cắt không còn giọt máu, bế xốc đứa con gái nhỏ mới lên 6 tuổi bị bỏng cồn do sơ suất lúc nấu nướng ngày cận Tết. Chẳng một giây do dự, ông Thoàn vội buông đôi đũa xuống mâm, quên cả cái chân tập tễnh vì vết thương cũ, vội vàng đón lấy cháu bé. Nhìn cách ông tỉ mỉ, cẩn thận tháo lớp gạc dính bết dịch mủ, rồi nhẹ nhàng đắp thuốc cho cháu như đang chăm chút cho chính đứa con, đứa cháu nội của mình, tôi bỗng hiểu vì sao suốt mấy chục năm qua, người dân nhiều vùng quê gọi ông bằng cái tên tôn kính: “Ông Thoàn Bỏng”.
 |
| Anh hùng Lao động, lương y, thương binh Đào Viết Thoàn. |
Những năm tháng trên chiến trường đã khiến ông Thoàn gửi lại một phần thân thể mình vì Tổ quốc. Trở về từ chiến tranh, trên cơ thể người lính năm xưa là những vết thương khủng khiếp: Chấn thương sọ não, hỏng mắt trái, mất nửa tai phải, vỡ bánh chè, hoại tử sâu tới tận xương bàn chân. Có những thời khắc, sự sống của ông chỉ còn được níu giữ bằng từng hơi thở mong manh, giữa ranh giới của còn - mất. Ngót nghét 10 lần nằm trên bàn mổ suốt hai năm ròng rã, bốn lần ghép da đều không liền, có lúc tưởng như mọi cánh cửa đã khép lại trước người thương binh nặng.
Nhưng đúng như người ta vẫn nói, khi cánh cửa này khép lại, cánh cửa khác sẽ mở ra. Chính trong những ngày tuyệt vọng nhất ấy, ông Thoàn đã gặp sư thầy Thích Đàm Lương tại Chùa Trắng (Hà Nội) - một cơ duyên như được sắp đặt. Cơ duyên ấy không chỉ giúp ông giữ lại được đôi chân đã nhiều lần đứng trước nguy cơ phải cắt bỏ, mà còn mở ra cho ông một lối đi định mệnh là con đường chữa lành cho người khác. Từ nỗi đau của chính mình, ông bước vào nghề y cứu người, như một cách tiếp tục cống hiến, tiếp tục trả nghĩa cuộc đời sau những mất mát mà chiến tranh để lại.
Ngồi trong căn nhà khang trang vừa mới xây lại, ông Thoàn say mê nói về dược liệu chữa bỏng. Ông dẫn tôi ra khu vườn trước nhà, nơi ông chăm chút từng bụi dâm bụt, từng khóm hương nhu tía, nghệ vàng, đu đủ, chìa vôi... Khu vườn được quy hoạch quy củ, đẹp mắt như một công viên thu nhỏ. Với ông, mỗi nhành cây, ngọn cỏ đều là một sinh mạng giúp hồi sinh những làn da cháy sạm. Bài thuốc “Mỡ sinh cơ” nổi tiếng của ông là sự kết tinh của tri thức dân gian, đạo lý nhà Phật và chính những trải nghiệm đau đớn trên da thịt của mình. Ông bảo: “Ngày xưa dân ta nấu bếp củi, bếp rơm nên hay bỏng lửa; giờ hiện đại hơn thì lại bỏng gas, bỏng cồn... Nhất là mấy ngày Tết, nhà nào cũng quây quần đông đúc, vui quá hóa sơ sẩy là họa đến ngay. Mình làm nghề này, Tết nhất chẳng bao giờ dám đi đâu xa quá một ngày, chỉ sợ bệnh nhân đêm hôm gọi cửa mà mình vắng thì tội họ lắm”.
Triết lý sống của người thương binh già ấy thật giản dị. Ông chia sẻ: “Phải luôn coi cái khổ, cái đau của người bệnh như nỗi đau của chính bản thân mình”. Có lẽ, vì thế mà trong ngôi nhà rộng rãi ông vừa xây lại, phần không gian ưu tiên nhất luôn là khu điều trị nội trú cho bệnh nhân.
 |
| Thương binh Đào Viết Thoàn (thứ ba, từ phải sang) chia sẻ về cây thuốc trong vườn nhà. |
Gần 45 năm hành nghề, lương y Đào Viết Thoàn đã điều trị thành công cho hơn 40.000 bệnh nhân. Trong đó, có gần 20.000 người được ông miễn tiền điện, nước, giường nằm ở nội trú, một con số tương đương với hàng tỷ đồng. Ông cũng miễn tiền công, tiền điện, nước và tiền thuốc cho khoảng 3.000 lượt người, trong đó phần lớn là trẻ khuyết tật, trẻ em mồ côi và các trường hợp có hoàn cảnh khó khăn. “Tiền bạc có thể mất đi nhưng y đức và sự sống của con người là vô giá”, thương binh Đào Viết Thoàn nhấn mạnh.
Với những nỗ lực không mệt mỏi, lương y Đào Viết Thoàn được Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều bằng khen, giấy khen... của chính quyền các cấp.
Tôi nhớ lại hình ảnh gặp ông ở Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI tại Hà Nội vừa qua, giữa những gương mặt điển hình tiên tiến của cả nước, ông bước lên sân khấu với bước chân tập tễnh nhưng gương mặt lại ánh lên sự nhanh nhẹn, hoạt bát kỳ lạ. Đó là lần thứ 5 ông vinh dự được dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc, một minh chứng rõ nét nhất cho sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với một con người luôn khắc ghi lời dạy của Bác: “Thương binh tàn nhưng không phế”.
Chia tay ông khi nắng chiều cuối năm nhuộm vàng những luống dược liệu, tôi mang theo hình ảnh người thương binh già tỉ mẩn đắp thuốc cho cháu bé lúc ban trưa. Ở vùng quê lúa này, mùa xuân dường như về sớm hơn không chỉ bởi hoa đào khoe sắc mà còn bởi niềm hy vọng được thắp lên từ bàn tay của người Anh hùng Lao động Đào Viết Thoàn.