Cơ duyên hội ngộ
Trong không gian ấm nồng mùi khói bếp và hơi thở văn hóa của gia đình Ma Phúc, vật được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà dài của ông là những thanh đá thô sơ. Đó là bộ đàn đá cổ, niềm tự hào lớn nhất trong bộ sưu tập của người đàn ông sinh năm 1964 này.
Ma Phúc kể về cơ duyên với bộ đàn đá từ hơn 15 năm về trước. Khi ấy, tin tức về một người dân đi đào bắt dúi tại xã Krông Nô tình cờ đào được những thanh đá lạ dưới bụi cây le, lan truyền đi khắp vùng. Người ta kháo nhau về “những hòn đá biết hát”. Nghe tin, bằng trực giác nhạy bén của một người am hiểu văn hóa, Ma Phúc phải đi 40km đến tận nơi tìm hiểu. Ngay khi chạm tay vào những thanh đá mát lạnh, gõ thử lên nghe âm thanh trầm bổng, ông biết mình đã chạm vào báu vật. Không ngần ngại, Ma Phúc dốc hầu bao 64 triệu đồng để “rước” bộ đàn đá về. “Thời điểm năm 2010, 64 triệu đồng là số tiền rất lớn, tương đương với 1,5 tấn cà phê nhân xô. Nhưng mình không tiếc, vì tiền làm ra được, còn báu vật của cha ông mất đi thì ngàn đời không dễ tìm lại được”, Ma Phúc nhớ lại.
 |
| Ma Phúc bên bộ đàn đá cổ sư tầm từ xã Krông Nô. |
Bộ đàn đá gồm 9 thanh, trong đó có một thanh bị gãy đôi do tác động của thời gian. Khi đưa về thẩm âm để phục dựng và đưa vào sử dụng, Ma Phúc, với đôi tai sành sỏi của một nghệ nhân, đã phát hiện ra một điều thú vị. Trong 9 thanh ấy, có một bộ hoàn chỉnh gồm 6 thanh phát ra những nốt nhạc tương ứng với dây đàn guitar. Điều kỳ diệu hơn cả, thang âm này tương đồng tuyệt đối với bộ chiêng 6 chiếc truyền thống của người M’nông. Ba thanh còn lại, theo ông phỏng đoán, có thể thuộc về một bộ đàn khác đã thất lạc hoặc chưa tìm thấy đủ.
Ngày đưa “đá thần” về buôn Lê, gia đình Ma Phúc tổ chức lễ cúng như đón một vị thần linh hay một người con đi xa trở về. Ông làm heo, mổ gà, mời già làng, dòng họ nội ngoại và cả buôn làng đến chung vui. Những ché rượu cần được vít cong cần, tiếng cười nói rộn ràng suốt mấy ngày đêm. “Hồi mới đưa về, ai cũng thích xem, ai cũng muốn sờ tận tay, nghe tận tai tiếng đàn đá. Nghe tiếng đá kêu như nghe tiếng vọng của cha ông mình từ ngàn xưa vọng lại!”, ánh mắt Ma Phúc sáng rực khi hồi tưởng.
Từ đó đến nay, bộ đàn đá sống đời sống của buôn làng. Tiếng đàn đá vang lên trong những ngày vui của gia đình, trong lễ cúng sức khỏe cho voi, lễ cúng lúa mới, lễ đua thuyền truyền thống hay những dịp lễ hội cà phê của tỉnh Đắk Lắk. Thậm chí, những thanh đá ấy đã từng theo Ma Phúc đi giao lưu với các đoàn nghệ thuật nước ngoài, mang âm hưởng của Tây Nguyên giới thiệu với bạn bè khắp năm châu bốn biển.
Nếu đàn đá như tiếng suối reo thì chiếc trống da trâu treo giữa nhà Ma Phúc chính là tiếng sấm rền vang vọng khắp buôn xa, làng gần. Chiếc trống khổng lồ, bạc màu thời gian là vật dụng mà ông đã gìn giữ hơn 40 năm qua. Ma Phúc vuốt ve mặt trống và kể, chiếc trống này có nguồn gốc từ vùng Đắk Phơi, nơi rừng đầu nguồn, nơi có những cây gỗ to, tròn và tốt nhất để làm tang trống. Người đồng bào ở đó đã hạ cây, đẽo gọt ròng rã nhiều tháng trời, rồi đợi khi mổ trâu, lấy nguyên tấm da trâu đực căng ra làm mặt trống.
 |
| Ma Phúc thẩm âm trống da trâu có nguồn gốc từ vùng đất Đắk Phơi. |
“Trước năm 1985, khi vào trong đó, thấy người ta có hai chiếc trống quý, mình thích quá, năn nỉ mãi họ mới chịu bán lại cho mình một chiếc”, ông kể. Chiếc trống này quý không chỉ bởi vật liệu, mà bởi âm thanh uy lực của nó. Ma Phúc khẳng định: “Trống da trâu này tiếng to lắm. Khi gõ ở buôn Lê, tiếng trống vượt qua mặt hồ, vượt qua mấy quả đồi, người ở tận Đắk Liêng, Yang Tao cũng nghe thấy!”.
Chính vì sự uy nghiêm ấy, chiếc trống rất ít khi được di chuyển hay gõ tùy tiện. Nó được treo cao, tránh trẻ con nghịch ngợm. Tiếng trống chỉ cất lên trong những dịp lễ trọng đại nhất của buôn làng. Mỗi khi tiếng trống vang lên, người M’nông hiểu rằng làng có việc lớn và dù đang ở nương rẫy hay bến nước, họ cũng sẽ gác lại công việc để kéo về. Chiếc trống như trái tim của buôn làng, nhịp đập của nó quy tụ lòng người, gắn kết cộng đồng.
Để mạch nguồn chảy mãi
Bước vào nhà Ma Phúc, du khách còn choáng ngợp bởi “thế giới” cồng chiêng và ché cổ mà ông dày công sưu tầm, gìn giữ tựa báu vật. Không chỉ giới hạn trong văn hóa M’nông, bộ sưu tập của Ma Phúc là sự giao thoa văn hóa đa dạng của các tộc người và các quốc gia lân cận, minh chứng cho những con đường giao thương cổ xưa.
 |
| Ma Phúc và những ché cổ của đồng bào M’nông. |
Gia tài ấy bao gồm 8 bộ chiêng Lào (mỗi bộ 3 chiếc), 1 bộ cồng 10 chiếc và đặc biệt là 5 bộ chiêng M’nông Rlăm chính gốc (gồm 1 bộ 3 chiếc có núm và 4 bộ chiêng bằng không núm, mỗi bộ 6 chiếc). Chưa kể, ông còn sưu tầm được cả cồng của Trung Quốc, Thái Lan. Ma Phúc không chỉ là người giữ chiêng, ông còn là nghệ nhân chơi chiêng điêu luyện, thuộc nằm lòng từng bài chiêng cổ, biết rõ xuất xứ, tên gọi và vai trò của từng chiếc trong các nghi lễ, lễ hội.
Nhưng có lẽ, câu chuyện về những chiếc ché mới thực sự nhuốm màu huyền bí. Trong bộ sưu tập hơn 20 chiếc ché cổ quý hiếm, có những chiếc ché Tang, ché Túk có tuổi đời còn lớn hơn cả tuổi của ông, nghe đâu có từ trước thời Vua Bảo Đại. Ma Phúc chỉ tay vào chiếc ché có những đường gờ nổi quanh miệng, giới thiệu: “Đây là ché Tang Brắk, có thừng quấn quanh miệng. Còn kia là ché Tang Lăng, ché Tang Súk..., đều là dòng ché cổ quý hiếm!”. Đặc biệt nhất là loại ché thể hiện quyền lực và sự giàu có tột bậc của người M’nông xưa: Ché Yăng Mih (Mih trong tiếng M’nông nghĩa là con rồng). Trên thân ché Yăng Mih có khắc họa tiết rồng, phượng bay lượn, biểu tượng của sức mạnh thần linh và sự thịnh vượng.
Với người Tây Nguyên, ché không đơn thuần là vật dụng đựng rượu cần. Ché có hồn, có tính cách, được xem như một thành viên trong gia đình. Ma Phúc chia sẻ: “Ché chia sẻ mọi buồn vui, chứng kiến những sự kiện trọng đại của đời người từ khi sinh ra, lớn lên, trưởng thành đến khi về với thế giới ông bà. Vì vậy, khi mua được một cái ché quý mang về, chủ nhà phải làm lễ cúng nhập gia, chào đón ché như đón người thân. Ngược lại, nếu cực chẳng đã phải bán hoặc cho đi, cũng phải làm lễ cúng chia tay, xin lỗi thần ché!”.
Hai chiếc ché đặc biệt nhất là ché Tang Súk và ché Yăng Mih được ông mua lại từ xã Dur Kmăl là minh chứng rõ nhất cho giá trị này. Ngày xưa, để sở hữu một chiếc ché Tang cũ như vậy, cha ông phải đổi bằng trâu, bò. Chúng là cầu nối giữa con người với thần linh trong các lễ cúng sức khỏe, mừng thọ, cúng nhà mới hay lễ bỏ mả.
Nhiều người thắc mắc, làm sao một nông dân có thể sở hữu khối tài sản văn hóa đồ sộ đến vậy? Câu trả lời nằm ở sự cần cù lao động và tư duy kinh tế nhạy bén, mà đặc biệt là lòng đam mê văn hóa truyền thống của gia đình Ma Phúc. Ông không chỉ là một nghệ nhân mà còn là một “tỷ phú nông dân” chính hiệu. Gia đình Ma Phúc sở hữu hơn 10ha cà phê bạt ngàn. Riêng trong vụ mùa năm 2024, sản lượng cà phê thu được lên tới 50 tấn. Nguồn thu nhập ổn định và dồi dào từ cây cà phê chính là “bệ đỡ” tài chính vững chắc, cho phép ông thỏa mãn niềm đam mê sưu tầm “văn hóa” đắt đỏ mà không phải lo gánh nặng cơm áo gạo tiền.
Nhưng quan trọng hơn cả tiền bạc, đó là sự ủng hộ tuyệt đối từ gia đình. Ma Phúc tự hào khoe: “Vợ và 6 đứa con (4 trai, 2 gái) của mình đều thích việc sưu tầm văn hóa truyền thống. Mọi thành viên trong nhà không bao giờ phàn nàn khi mình mang tiền đi mua đá, mua ché, ngược lại còn rất ủng hộ và tự hào, khích lệ”.
Gia đình Ma Phúc cũng là những người tiên phong làm du lịch cộng đồng tại hồ Lắk. Từ khi còn ở buôn Jun (nhà cha mẹ đẻ), gia đình ông đã là hộ đầu tiên mở cửa đón khách lưu trú. Sau này, khi theo phong tục mẫu hệ về nhà vợ ở buôn Lê, ông tiếp tục mở rộng mô hình này. Ngôi nhà sàn của ông trở thành điểm đến văn hóa, nơi du khách không chỉ được ngủ trong nhà dài, ăn cơm lam, gà nướng muối ớt, mà còn được chính chủ nhân giới thiệu về kho tàng văn hóa M’nông sống động, đồ sộ và phong phú.
Khi được hỏi về mục đích của việc bỏ ra cả gia tài để gom nhặt những món đồ cũ kỹ, Ma Phúc trầm ngâm nhìn ra phía hồ Lắk mênh mông. Ông bảo, ông không giữ cho riêng mình. “Việc sưu tầm các hiện vật văn hóa cổ xưa này chỉ với một mục đích duy nhất: Gìn giữ để con cháu mình mãi mãi về sau hiểu biết về văn hóa dân tộc mình. Nếu mình không giữ, chúng sẽ bị bán đi, bị thất lạc và hồn cốt M’nông rồi sẽ phai nhạt mất!”-ông chia sẻ.
Bộ sưu tập của nghệ nhân Y Kiêm A Jun không đóng kín trong bốn bức tường gỗ. Nó là một bảo tàng mở, một không gian văn hóa sống động. Ông thường xuyên đón tiếp các đoàn khách du lịch, các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu. Với ông, bảo tồn không phải là cất kỹ trong rương hòm, mà là để văn hóa được “sống”, được vang lên, được lan tỏa và vang xa, vang vọng mãi về sau.
Chia tay Ma Phúc khi nắng chiều đã ngả bóng, tiếng đàn đá ông gõ vang vang như níu chân người lữ khách. Giữa dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, thật may mắn khi buôn làng vẫn còn những người như Ma Phúc-người giữ gìn những báu vật của buôn làng M’nông để mạch nguồn văn hóa Tây Nguyên mãi trường tồn như đỉnh Chư Yang Sin hùng vĩ.