Gần 40 năm “ăn rừng, ở biển”

Thời gian, gió và muối biển đã hằn sâu lên mái tóc bạc, làn da sạm nắng, khiến ông Vững như già hơn tuổi. Nhưng mỗi khi nhắc đến biển, rùa biển, giọng ông lại chậm rãi, trầm ấm như một dòng chảy không dứt của ký ức và đam mê. Quê ở tỉnh Hậu Giang (nay là TP Cần Thơ), năm 1984, khi vừa tròn 17 tuổi, lần đầu Nguyễn Văn Vững đặt chân đến Côn Đảo tham gia lực lượng thanh niên xung phong ra đảo trồng rừng.

 Cảnh sắc núi rừng, biển, đảo hoang sơ đã níu chân chàng trai trẻ. Sau chuyến đi ấy, ông đăng ký vào lực lượng kiểm lâm thuộc Ban Quản lý rừng cấm Côn Đảo, tiền thân của Vườn Quốc gia Côn Đảo ngày nay. “Ngày đó, Côn Đảo khó khăn trăm bề. Không điện, không sóng điện thoại, di chuyển giữa các đảo vô cùng khó khăn. Công việc không chỉ là trồng và giữ rừng mà còn bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã quý hiếm”, ông Vững nhớ lại.

Kỹ sư Nguyễn Văn Vững cùng tình nguyện viên thả rùa con xuống biển. 

Không ít người vào làm kiểm lâm rồi xin chuyển về đất liền vì quá nhiều gian khổ. Riêng ông Vững thì khác. Năm 1988, ông lập gia đình với một đồng nghiệp, xác định gắn bó lâu dài với đảo. Được cơ quan tạo điều kiện đi học kỹ sư lâm nghiệp, ông nỗ lực học tập, tích lũy kiến thức khoa học về sinh thái biển, phục vụ công tác bảo tồn sau này. Công việc buộc ông phải “bám đảo, bám rừng”, có khi vài tháng mới về thăm nhà một lần. Nhưng bù lại, ông có những câu chuyện rất riêng với các con. “Mỗi lần về, con tôi lại hỏi: Ba ơi, đợt này có nhiều rùa không? Có con nào quay lại không? Với tôi, ngoài gia đình, biển cũng là nhà, rùa cũng là người thân”, ông Vững chia sẻ.

Suốt gần 40 năm công tác ở Vườn Quốc gia Côn Đảo, các chốt trạm, đảo to, đảo nhỏ trở thành chốn quen thuộc, nơi ông dành hết tâm huyết, sự hy sinh, cống hiến. “Ở đây buồn thì buồn thật, nhưng bình yên lắm. Đêm nghe rùa bò lên bãi, nghe sóng vỗ, thấy mình nhỏ bé mà hạnh phúc”, ông Vững bộc bạch.

Nặng nợ với đại dương

Vùng biển Côn Đảo có quần thể rùa lên bãi đẻ trứng lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 90% tổng số rùa biển sinh sản của Việt Nam, được ví là cái “nôi sinh sản” của hàng chục nghìn cá thể rùa mỗi năm. Nơi đây ghi nhận 4 loài rùa quý hiếm: Rùa xanh, đồi mồi, đồi mồi dứa và rùa quản đồng. Rùa biển chọn 18 bãi đẻ trên diện tích khoảng 24ha, tập trung tại các điểm như hòn Bảy Cạnh, hòn Cau, hòn Tài, hòn Tre Lớn... “Những ngày đầu, khi thấy rùa mẹ bò lên đẻ trứng, tôi đứng lặng người. Một con vật to gần cả tạ, vậy mà hiền lành, chậm rãi. Nó đào ổ, đẻ xong rồi lại gạt cát lấp lên, như một người mẹ vụng về. Đẻ trứng xong, nó lặng lẽ quay về biển. Tôi nhìn mà rưng rưng vô cùng. Hóa ra biển cũng biết yêu, biết gửi lại mầm sống của mình”, ông Vững nhớ lại.

Kỹ sư Nguyễn Văn Vững. 

Cảm xúc ngày ấy và tình yêu đối với rùa biển lớn dần. Vào mùa sinh sản từ tháng 4 đến tháng 11 hằng năm, ông Vững và đồng đội trực gần như suốt mỗi đêm để bảo vệ và làm “bà đỡ” cho rùa. Ông không nhớ nổi mình đã giúp bao nhiêu trứng nở thành công, thả bao nhiêu rùa con về với biển cả. Trong cuốn sổ nhỏ ghi chép hằng ngày của ông, có năm, ông và tình nguyện viên đã thả 180.000 con rùa về biển. Để bảo vệ những bãi cát rùa lên đẻ trứng, ông và đồng đội phải sống nhiều tháng liền trên đảo nhỏ trong điều kiện thiếu điện, thiếu nước ngọt, không sóng điện thoại, quen với muỗi rừng và gió biển mặn mòi. Ông Vững được xem là người “đọc vị” rùa biển vì nắm rõ từng bãi cát, ghềnh đá, thời gian thủy triều, mùa gió, thói quen và tập tính sinh sản của rùa. Mỗi đêm, ông lặng lẽ đi dọc bãi biển, chiếc đèn gắn trên đầu phát ánh sáng đỏ mờ, bước chân giẫm lên sỏi đá sắc cạnh, quen thuộc như hơi thở.

Những ngày theo chân ông Vững ra hòn Bảy Cạnh-bãi rùa đẻ lớn nhất Việt Nam, chúng tôi mới hiểu vì sao ông được gọi là “bà đỡ” của các mẹ rùa. Đêm không trăng, biển động, sóng vỗ ào ạt. Giọng ông thì thầm: “Do ảnh hưởng của bão, biển động, 3 đêm rồi không thấy rùa lên. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, đêm nay sẽ có”. Quả nhiên, đúng nửa đêm, từ mặt biển đen sẫm, một bóng đen lớn chậm rãi bò lên bãi. Rùa mẹ mất gần 30-40 phút để chọn chỗ, đào hố, rồi bắt đầu đẻ trứng. Lúc rùa "lâm bồn", ông mới nhẹ nhàng tiếp cận, đứng phía sau đo kích thước, đánh dấu cá thể. Đợi rùa rời đi, ông mới tiếp cận ổ trứng. “Mỗi rùa mẹ thường đẻ từ 80 đến 120 trứng. Mỗi ổ trứng là cả một thế hệ. Chỉ cần giật mình vì ánh sáng lạ, rùa sẽ bỏ đẻ, quay lại biển”, ông giải thích.

Gìn giữ sự sống, yêu thương là biết cho đi

Những năm đầu, khi chưa hiểu rõ quy luật, đặc tính sinh sản, ông Vững phát hiện trứng rùa nở tự nhiên trên bãi có tỷ lệ sống rất thấp do nhiệt độ không ổn định, bị ngập nước, thú hoang và con người xâm hại. Từ đó, ông là một trong những người tiên phong đề xuất và trực tiếp triển khai mô hình ấp trứng nhân tạo. Trứng sau khi lấy từ ổ được đưa về khu ấp, đặt vào hố ấp nhân tạo bảo đảm nhiệt độ, độ ẩm phù hợp, gắn thiết bị theo dõi. Nhờ đó, tỷ lệ trứng nở đạt 80-90%, tạo ra những cá thể rùa con khỏe mạnh. “Mỗi quả trứng là một cơ hội sống, không được phép cẩu thả. Những chú rùa sau khi nở có dấu hiệu yếu ớt đều được chúng tôi hồi sức tích cực, chăm sóc trước khi thả xuống biển”, ông nói.

Kỹ sư Nguyễn Văn Vững cùng tình nguyện viên chăm sóc khu ấp trứng nhân tạo. 

Ban đêm, ông cùng tình nguyện viên tuần tra bảo vệ cho rùa đẻ, đánh dấu lưu hồ sơ, đưa trứng về khu ấp nhân tạo. Ban ngày, ông chăm sóc hố ấp, canh thời điểm trứng nở để “đỡ” rùa con về biển, vệ sinh và phục hồi bãi cát. Công việc lặp lại, nhưng ông chưa bao giờ cảm thấy nhàm chán. Từ vài chục rùa mẹ những năm đầu, đến nay, mỗi năm có hàng nghìn rùa mẹ lên bãi, hàng trăm nghìn rùa con được thả về biển. Côn Đảo trở thành điểm sáng bảo tồn rùa biển của Việt Nam.

Nhưng thách thức vẫn luôn hiện hữu do biến đổi khí hậu làm tăng nhiệt độ cát, rác thải nhựa trôi nổi, lưới đánh cá ven bờ đe dọa rùa trưởng thành. “Có lần chúng tôi phải mất hai giờ đồng hồ mới gỡ được lưới cho một con rùa mẹ. Nó bị thương nặng ở vây, anh em phải băng bó rồi thả lại biển. Nhìn nó bơi đi chậm chạp, tôi vừa thương vừa lo, không biết nó có đủ sức sinh tồn giữa đại dương hay không và chỉ mong nó còn đủ sức quay lại để chúng tôi chăm sóc hồi phục”, ông kể.

 Kỹ sư Nguyễn Văn Vững cùng tình nguyện viên di dời trứng rùa về khu ấp trứng nhân tạo.

Không chỉ bảo tồn, ông Vững còn là người “truyền lửa”, chia sẻ, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo tồn động, thực vật, giữ sạch môi trường biển. Ông tham gia tập huấn cho nhiều khu bảo tồn ở các tỉnh, thành phố trong cả nước để chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng thực hành bảo tồn động, thực vật biển, thiết lập mô hình quản lý, giám sát ấp trứng rùa nhân tạo. Mỗi năm, hàng nghìn du khách tham gia tour du lịch sinh thái “Đêm xem rùa đẻ trứng” của Vườn Quốc gia Côn Đảo do ông trực tiếp hướng dẫn. Giọng kể chậm rãi, giàu trải nghiệm khiến nhiều người lặng đi khi thấy rùa mẹ rơi nước mắt trong lúc đẻ trứng.

“Nhiều em nhỏ xem rùa đẻ trứng xong đã nói rằng: "Cháu sẽ không xả rác ra biển nữa". Chỉ vậy thôi là tôi vui cả tuần”, ông cười. Với ông, mỗi người hiểu thêm một chút là biển bớt đi một nguy cơ xâm hại, phá vỡ môi trường biển. Hoạt động hợp tác quốc tế trong bảo tồn rùa biển được Vườn Quốc gia Côn Đảo đẩy mạnh trong nhiều năm qua. Nhiều đoàn chuyên gia, nhà khoa học, tình nguyện viên nước ngoài đến tìm hiểu đều được ông Vững tận tình chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn nghiên cứu. Nhiều người còn ví ông là “pho sách sống” về tập tính của rùa biển Việt Nam, góp phần lớn trong việc các tổ chức quốc tế đánh giá Vườn Quốc gia Côn Đảo là đơn vị hàng đầu về bảo tồn rùa biển của Việt Nam và quốc tế.

Niềm vui lớn nhất của kỹ sư Nguyễn Văn Vững là mỗi sớm mai, khi ánh mặt trời rọi xuống bãi cát, những chú rùa con ưỡn mình bò về phía biển, bắt đầu hành trình sinh tồn. “Biển dạy tôi rằng, đôi khi yêu thương không phải là giữ lại, mà là cho đi”, ông nói. Chúng tôi rời hòn Bảy Cạnh, rời những ngày cùng ông trên những bãi cát. Phía sau, ông Vững vẫn đứng lặng nhìn ra biển, ánh mắt tràn đầy hy vọng. Những chú rùa xanh bơi xa dần, mang theo hy vọng hồi sinh. Sự nhiệt huyết, cống hiến âm thầm của ông bình dị như thế giữa biển trời Côn Đảo, đang góp phần giữ cho đại dương mãi xanh.