1. Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, không một quốc gia nào có thể phát triển bền vững nếu tự cô lập mình ra khỏi thế giới; nhưng cũng không thể bảo vệ lợi ích lâu dài nếu làm mất tính độc lập, tự chủ trong hoạch định chính sách chiến lược phát triển của quốc gia.

Nhận thức sâu sắc điều đó, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, thích ứng với thời cuộc. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”.

Mục tiêu đường lối đối ngoại của Đảng là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; chủ động đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trên tinh thần là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Phương châm đối ngoại là tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho phát triển đất nước.

Vị thế, uy tín Việt Nam gia tăng trên trường quốc tế bác bỏ luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại của Đảng. Trong ảnh: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, ngày 22-9-2026. Ảnh: qdnd.vn

2. Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm cách xuyên tạc bản chất, mục tiêu và phương thức thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Các đối tượng chống phá cho rằng, Việt Nam “không thực sự độc lập về đối ngoại”, “Việt Nam tham gia sâu vào các cơ chế quốc tế đồng nghĩa với phụ thuộc, đánh mất chủ quyền”; “chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam là “không có chính kiến”; thậm chí họ cho rằng Việt Nam kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình là thể hiện sự “yếu thế”, “nhân nhượng”.

Những luận điệu xuyên tạc đó đều không có cơ sở khoa học, trái với những gì diễn ra trong thực tế ở Việt Nam nên cần phải vạch trần, đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định rằng độc lập, tự chủ là khả năng tự quyết định những vấn đề thuộc về lợi ích quốc gia-dân tộc, không để quốc gia khác áp đặt, chi phối; đồng thời chủ động xác định phương thức quan hệ với các nước phù hợp với lợi ích của mình. Độc lập, tự chủ không có nghĩa là đóng cửa hay tự cô lập. Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, một quốc gia càng có năng lực hội nhập, càng có nhiều quan hệ đối tác và càng tham gia hiệu quả vào các cơ chế đa phương thì càng có thêm điều kiện để bảo vệ, thúc đẩy lợi ích của đất nước mình.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rất rõ mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế: Độc lập, tự chủ là cơ sở để hội nhập chủ động, còn hội nhập hiệu quả góp phần củng cố năng lực độc lập, tự chủ của đất nước. Việc xử lý mối quan hệ này phải đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên hàng đầu, đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc ứng xử chung của Liên hợp quốc. Việc đa phương hóa, đa dạng hóa giúp Việt Nam mở rộng không gian hợp tác, giảm thiểu nguy cơ phụ thuộc, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và tăng khả năng thích ứng trước những biến động quốc tế. Điều đó thể hiện rõ trong việc Việt Nam chú trọng phát triển quan hệ với các đối tác khác nhau, tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu như: ASEAN, Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)...

Những thông tin, ý kiến xuyên tạc chính sách hòa bình của Việt Nam thể hiện sự “yếu thế”, “nhân nhượng” là cách nhìn võ đoán, phiến diện. Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia đòi hỏi sự tổng hợp của nhiều công cụ: Ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, truyền thông,... Trong đó, sử dụng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế là cách thức quan trọng nhằm kiểm soát bất đồng, hạn chế nguy cơ xung đột và tạo điều kiện để giải quyết vấn đề phức tạp một cách hiệu quả, bền vững, có lý có tình. Một quốc gia có bản lĩnh không lựa chọn đối đầu mà luôn biết xác định đúng lợi ích chính đáng và biết cách sử dụng phù hợp các công cụ để bảo vệ lợi ích đó.

Một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam cũng không nhất thiết phải lựa chọn giữa “theo bên này” hoặc “theo bên kia”. Với Việt Nam, lựa chọn đúng đắn nhất chính là tăng cường quan hệ với nhiều đối tác và chủ động tạo dựng thế cân bằng chiến lược phù hợp với lợi ích quốc gia-dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nguyên tắc xử lý hài hòa lợi ích quốc gia với các lợi ích chung, phù hợp với luật pháp quốc tế; quan tâm giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Điều này đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 72 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đền Hùng (19-9-1954 / 19-9-2026) và khánh thành Tượng đài “Bác Hồ với ngày hội non sông” tổ chức tại tỉnh Phú Thọ ngày 19-9-2026: “Đã trải qua nhiều hy sinh để giành độc lập, dân tộc Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình. Chúng ta kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Giữ vững hòa bình để xây dựng đất nước và đóng góp có trách nhiệm cho cộng đồng quốc tế là lợi ích, nguyện vọng của nhân dân ta”.

3. Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, nhờ có đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với xu thế thời đại, biết cách khơi dậy sức mạnh dân tộc với phát huy sức mạnh thời đại, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Công tác đối ngoại đã góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giải quyết được nhiều vấn đề về biên giới trên bộ và trên biển với các nước có liên quan, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực”. Từ một đất nước không có sự thừa nhận quốc tế, đến tháng 9-2026, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc; có khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 45 đối tác, là thành viên của 70 tổ chức quốc tế quan trọng và 17 hiệp định thương mại tự do. Thành quả đó có sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế, nhân dân thế giới đã dành cho Việt Nam.

Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế cũng được bạn bè quốc tế ghi nhận. Chia sẻ tại Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức vào tối 28-8-2026, tại Hà Nội, ngài Raúl Juan Pollak Giampietro, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Đông Uruguay tại Việt Nam khẳng định: Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với những giá trị chung về hòa bình, hợp tác, chủ nghĩa đa phương và phát triển bền vững, đồng thời có những đóng góp quan trọng đối với an ninh quốc tế, nổi bật là việc tích cực tham gia đàm phán Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội).

Ngày 4-9 vừa qua, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80 đã thông qua Nghị quyết phát động và tuyên bố giai đoạn 2027-2036 là “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững”. Đây là sáng kiến đầu tiên có quy mô lớn nhất do Việt Nam khởi xướng tại Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO). Sáng kiến của Việt Nam được thông qua không chỉ minh chứng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng, Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, mà thành công này cho thấy Việt Nam có những đóng góp thiết thực vì lợi ích chung của nhân loại, qua đó tiếp tục khẳng định, nâng tầm vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Từ bài học kinh nghiệm thực tiễn trong thực hiện đường lối đối ngoại sau 40 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định: “Tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Quan điểm này thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng về vị thế, vai trò của đối ngoại trong thời đại toàn cầu hóa, qua đó khẳng định sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ bằng sức mạnh nội lực quốc phòng, an ninh trong nước mà còn bằng uy tín quốc tế, bằng các quan hệ đối tác chiến lược, bằng uy tín, vị thế, sức mạnh mềm của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động phức tạp, bất ổn, khó lường, Việt Nam tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; chủ động, tích cực hội nhập; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh; lấy lợi ích quốc gia-dân tộc và hòa bình, ổn định để làm thước đo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đó cũng là cơ sở để Việt Nam chủ động thích ứng với thời đại, không ngừng củng cố, nâng cao vị thế quốc tế và kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, tạo cơ sở để xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.