Nguy cơ mất chủ quyền trên "vùng lãnh thổ đặc biệt"

Nếu các hành vi số của hơn 85,6 triệu người dùng internet tại Việt Nam cùng toàn bộ hệ thống dữ liệu kinh tế-xã hội của quốc gia bị thu thập, phân tích bởi các máy chủ ngoài biên giới, dữ liệu không còn chỉ là câu chuyện an toàn của mỗi cá nhân mà đã trở thành tài nguyên chiến lược có ảnh hưởng đến chủ quyền, an ninh quốc gia. Không giữ được chủ quyền đối với dữ liệu, Việt Nam đối mặt với nguy cơ bị đánh mất độc lập, tự chủ ngay trên chính "vùng lãnh thổ đặc biệt" của mình.

Ảnh minh họa: baochinhphu.vn 

Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là một bộ phận không thể tách rời trong tổng thể chủ quyền quốc gia, bao gồm quyền quản lý, kiểm soát hệ thống thông tin, dữ liệu và tài nguyên số. Một quốc gia sẽ không thể có độc lập, tự chủ thực sự nếu các hoạt động kinh tế và đời sống chính trị-xã hội bị phụ thuộc vào hạ tầng dữ liệu và các thuật toán do bên ngoài chi phối.

Hiểm họa từ sự phụ thuộc công nghệ

Những thách thức đối với an ninh dữ liệu và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng không còn là dự báo trên lý thuyết mà đã hiện hữu qua nhiều sự việc thực tế thời gian qua.

Tháng 10-2025, Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) xác nhận một sự cố bảo mật dữ liệu liên quan đến nền tảng chăm sóc khách hàng trực tuyến do một tập đoàn công nghệ toàn cầu cung cấp cho hãng. Một phần dữ liệu khách hàng được xử lý trên hệ thống này có thể đã bị truy cập trái phép. Dù hệ thống công nghệ thông tin nội bộ của hãng không bị ảnh hưởng, vụ việc đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ mất an toàn dữ liệu khi các doanh nghiệp trong nước sử dụng dịch vụ nền tảng số và máy chủ lưu trữ của các tập đoàn nước ngoài.

Ngoài ra, thực tế triển khai ứng dụng công nghệ vào công việc tại một số ngành, địa phương cho thấy nguy cơ không nhỏ từ các thiết bị có nguồn gốc nước ngoài. Trường hợp hệ thống quan trắc thủy lợi ở tỉnh Cà Mau là một ví dụ. Theo lãnh đạo Chi cục Thủy lợi (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau), một số thiết bị có nguồn gốc nước ngoài tại các trạm quan trắc đã truyền dữ liệu về máy chủ đặt ở nước ngoài, gây khó khăn cho công tác quản lý, khai thác và chủ động điều hành tại địa phương.

Khi thuật toán trở thành kẻ thao túng dư luận

Ngày nay, mỗi buổi sáng, hàng chục triệu người Việt Nam mở điện thoại và bước vào một không gian thông tin không do biên tập viên nào sắp xếp. Cái họ thấy đầu tiên, thấy nhiều nhất, phần lớn do một hệ thống thuật toán quyết định. Mục tiêu của hệ thống ấy không phải là sự thật, không phải là giá trị nhân văn mà là mức độ tương tác: Lượt xem, lượt thích, lượt chia sẻ, thời gian ở lại màn hình.

Đây chính là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản số. Các tập đoàn công nghệ nắm giữ hạ tầng, dữ liệu và "quyền sắp xếp" sự chú ý của hàng tỷ người, rồi biến sự chú ý đó thành doanh thu. Trong mô hình này, nội dung gây phẫn nộ, giật gân, cực đoan hay kích dục thường lan nhanh hơn nội dung chuẩn mực, vì chúng níu giữ người dùng lâu hơn.

Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ quyền định hướng thông tin đang dịch chuyển: Trước đây, các cơ quan báo chí, nhà trường, thiết chế văn hóa là những kênh chính định hình nhận thức xã hội. Nay do sự phát triển công nghệ, một phần rất lớn quyền định hình nhận thức xã hội lại nằm trong tay những nền tảng mà chúng ta không sở hữu, không nhìn thấy cơ chế vận hành và rất khó đối thoại.

Sự thao túng không gian văn hóa, tư tưởng trên môi trường số không diễn ra theo cách áp đặt trực diện mà thấm dần qua nhiều tầng.

Thứ nhất, thao túng bằng thuật toán đề xuất. Người dùng tưởng mình tự do lựa chọn, nhưng thực chất đang đi theo lối mòn do hệ thống vạch sẵn. Một người xem vài video với một khuynh hướng nhất định sẽ được đẩy ngày càng nhiều nội dung cùng chiều, nơi quan điểm của họ liên tục được củng cố, còn ý kiến khác biệt dần biến mất. Hệ quả là xã hội bị chia rẽ thành những nhóm khó đối thoại.

Thứ hai, thao túng bằng thông tin sai lệch và nội dung tổng hợp. Công nghệ AI cho phép sản xuất hàng loạt tin giả, hình ảnh, giọng nói và video giả mạo với chi phí rất thấp. Một đoạn clip cắt ghép có thể làm lung lay uy tín của một cá nhân, một tổ chức, thậm chí gây hoang mang trong cộng đồng trước khi cơ quan chức năng kịp xác minh.

Thứ ba, thao túng bằng "quyền lực mềm" văn hóa. Các sản phẩm giải trí, trò chơi, mạng xã hội mang theo hệ giá trị, lối sống, thẩm mỹ của nơi sản xuất ra chúng. Khi được phân phối đại trà bằng thuật toán, chúng dần lấn át sản phẩm trong nước, làm phai nhạt bản sắc và thay đổi chuẩn mực ứng xử của giới trẻ mà người dùng không hề nhận ra.

Thứ tư, lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc, chống phá. Các thế lực thù địch, các nhóm lợi ích cực đoan tận dụng chính cơ chế lan truyền của nền tảng để phát tán thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo, vùng miền. Điều đáng lo là các nội dung này thường được đóng gói khéo léo dưới dạng giải trí, chia sẻ cá nhân hay phản biện xã hội, khiến người xem khó nhận diện.

Thao túng hiệu quả nhất là thao túng mà người bị tác động tin rằng đó là suy nghĩ của chính mình. Khi đó, chúng ta không còn đối diện với một thông điệp cụ thể để phản bác mà đối diện với cả một môi trường thông tin được thiết kế.

Từ sức khỏe tinh thần đến an toàn xã hội

Tác động tiêu cực của sự thao túng không dừng ở lĩnh vực tư tưởng. Nó lan sang nhiều tầng của an toàn xã hội.

Với trẻ em và thanh thiếu niên, nguy cơ rõ nhất. Đây là nhóm sử dụng mạng xã hội nhiều nhất, nhưng cũng là nhóm có sức đề kháng thông tin thấp nhất. Các cơ chế gây nghiện như cuộn vô tận, tự động phát video, thông báo dồn dập khiến trẻ dành quá nhiều thời gian trên màn hình, ảnh hưởng đến giấc ngủ, học tập, sức khỏe tâm thần. Nội dung bạo lực, độc hại, các thử thách nguy hiểm, các chuẩn mực sắc đẹp và thành công méo mó có thể len vào tâm trí các em chỉ qua vài lần vuốt màn hình.

Với niềm tin xã hội, tin giả và nội dung giả mạo làm xói mòn niềm tin vào thông tin chính thống, vào các thiết chế, thậm chí vào chính các mối quan hệ gần gũi. Khi người ta không còn biết tin vào đâu, xã hội trở nên dễ tổn thương trước mọi làn sóng tin đồn, từ thị trường tài chính đến y tế, giáo dục.

Với đồng thuận xã hội, những nội dung kích động chia rẽ làm sâu thêm khoảng cách giữa các nhóm xã hội, thế hệ, vùng miền. Sự đồng thuận vốn là nền tảng của ổn định chính trị-xã hội, nay có nguy cơ bị tổn thương bằng những vết cắt nhỏ nhưng liên tục.

Với bản sắc văn hóa dân tộc, khi thị hiếu và lối sống bị định hình bởi những dòng chảy ngoại lai, nếu thiếu sức đề kháng, các giá trị truyền thống như gia đình, tình làng nghĩa xóm, lòng tự hào dân tộc có nguy cơ bị xem nhẹ.

Thể chế và năng lực công nghệ

Tại nghị trường Quốc hội, nhiều đại biểu Quốc hội đã nêu yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý cho không gian mạng, theo kịp tốc độ phát triển của các công nghệ như AI, nội dung tổng hợp, quảng cáo xuyên biên giới.

Luật phải đủ rõ để xác định trách nhiệm của nền tảng, của người tạo nội dung, của người quảng bá, đồng thời đủ linh hoạt để không cản trở đổi mới sáng tạo. Khung pháp lý hiện nay gồm Luật An ninh mạng, các quy định về quản lý internet cùng các luật và nghị quyết mới về dữ liệu, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số. Tuy nhiên, thách thức là việc thực thi với các nền tảng đặt máy chủ và pháp nhân ở nước ngoài, và những khoảng trống đối với công nghệ mới như nội dung do AI tạo ra, gắn nhãn nội dung tổng hợp, bảo vệ trẻ em trên môi trường số.

Nếu nguyên nhân gốc nằm ở mô hình kinh doanh của các nền tảng thì giải pháp không thể thiếu vai trò của doanh nghiệp, cả doanh nghiệp công nghệ nước ngoài lẫn trong nước. Đối với các nền tảng xuyên biên giới, yêu cầu đặt ra là tuân thủ pháp luật Việt Nam, minh bạch về cách vận hành thuật toán ở mức cần thiết, gỡ bỏ nhanh nội dung vi phạm theo yêu cầu của cơ quan chức năng, có đại diện và cơ chế trách nhiệm rõ ràng tại Việt Nam. Các quy định hiện hành về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ và thông tin trên internet, trong đó có yêu cầu xác thực tài khoản người dùng, là bước đi để siết chặt trách nhiệm này. Với doanh nghiệp Việt Nam thì không thể chỉ đòi hỏi sân chơi công bằng mà còn phải chủ động xây dựng nền tảng, làm chủ công nghệ, làm ra sản phẩm nội dung số tử tế.

Giữ vững chủ quyền trong không gian tinh thần

Mọi biện pháp quản lý, dù cần thiết, đều có giới hạn. Một bộ lọc kỹ thuật không thể thay thế bản lĩnh của người dùng. Vì vậy, nhiều ý kiến thống nhất rằng giải pháp căn cơ để giữ vững chủ quyền trong không gian tinh thần là tăng cường xây dựng sức đề kháng văn hóa, tư tưởng cho toàn xã hội.

Nghị quyết số 25-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới đã nêu rõ việc công tác tư tưởng tiến hành đồng bộ, hiệu quả trên cả không gian thực và không gian số.

Muốn xây dựng sức đề kháng văn hóa, tư tưởng cho toàn xã hội, trước hết phải giáo dục năng lực số và tư duy phản biện ngay từ nhà trường: Biết kiểm chứng thông tin, hiểu cách thuật toán vận hành, nhận diện tin giả và nội dung thao túng. Kế đến là vai trò của gia đình, nơi cha mẹ cần đồng hành với con trong thế giới số thay vì chỉ cấm đoán.

Muốn thắng trong cuộc cạnh tranh về không gian tinh thần không thể chỉ chặn và gỡ. Chúng ta phải có nhiều sản phẩm văn hóa Việt hay, hấp dẫn, được công chúng, nhất là giới trẻ yêu thích. Điều đó đòi hỏi đầu tư thích đáng cho công nghiệp văn hóa, nội dung số, khuyến khích sáng tạo dựa trên giá trị truyền thống bằng ngôn ngữ của thời đại. Cùng với đó, báo chí chính thống cần đổi mới để chiếm lĩnh không gian mạng bằng thông tin nhanh, chính xác, hấp dẫn và đáng tin cậy.

Cùng với chủ quyền dữ liệu và an ninh quốc gia, chủ quyền trong không gian văn hóa, tư tưởng là hai mặt của cùng một vấn đề: Ai có quyền kiểm soát nền kinh tế, định hình nhận thức, giá trị và lối sống của người Việt Nam trong kỷ nguyên số.

(còn nữa)