Với ưu thế về năng suất, tỷ lệ thành công cao, dễ đạt tiêu chuẩn quốc tế nên mô hình này giúp hình thành chuỗi liên kết mới: Doanh nghiệp-ngân hàng-đại lý-người nuôi. Mô hình được dự báo sẽ trở thành xu thế mới trong phát triển ngành tôm Việt Nam.
Thay đổi và thành công
Sau thời gian dài phát triển nóng, đến năm 2010, nghề nuôi tôm nước lợ ở ĐBSCL bắt đầu chững lại, mà nguyên nhân chủ yếu là do môi trường bị ô nhiễm và phát sinh dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề cho tôm nuôi, đặc biệt là dịch bệnh tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome-EMS) bùng phát mạnh trong giai đoạn 2011-2013. Công cuộc “giải cứu” nghề nuôi tôm ở ĐBSCL trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết. Ngoài gói hỗ trợ khoanh nợ, giản nợ từ phía Chính phủ còn có sự vào cuộc quyết liệt của các nhà khoa học, doanh nghiệp ngành tôm. Tuy nhiên, ngành tôm chỉ bắt đầu hồi sinh và tăng tốc mạnh mẽ khi có sự xuất hiện của mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao cùng quyết tâm thay đổi của người nuôi.
 |
| Thu hoạch tôm nuôi theo mô hình ứng dụng công nghệ cao ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. |
Đưa chúng tôi tham quan mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao bằng ao tròn nổi, ông Tạ Thanh Tròn (xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu) phấn khởi khoe: "Tôm mau lớn lắm. Vụ này tôi tiếp tục cầm chắc thắng lớn!". Với mật độ thả nuôi đến 200 con/m2 và tôm chỉ mới 80 ngày tuổi nhưng ao tôm của ông Tròn đã đạt cỡ 29 con/kg. Thấy tôi nhìn về cánh đồng tôm rộng lớn xung quanh, nhưng chỉ toàn ao đất, ông Tròn lắc đầu ngao ngán: "Thấy nước mênh mông vậy chớ chết gần hết rồi. Bây giờ nuôi tôm thẻ bằng ao đất thì khó ăn lắm". Có lẽ chỉ những người từng trả giá đắt cho những thất bại như ông Tròn mới hiểu hết ý nghĩa và giá trị của việc ứng dụng khoa học công nghệ vào nuôi tôm. Ông Tròn cho biết thêm: "Nuôi tôm bây giờ phải biết chọn mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nào phù hợp mới có được thành công. Cũng may là tôi chuyển đổi kịp thời sang mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao bằng ao tròn nổi này chứ nếu không sang năm chắc sẽ không còn đất để nuôi".
Ông Châu Minh Tâm ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, chia sẻ: Kể từ sau dịch bệnh EMS, việc nuôi tôm bằng ao đất càng ngày càng khó khăn hơn, nguyên nhân chủ yếu là do không thể quản lý môi trường đất, nước tốt bằng ao lót bạt. Vì vậy hộ nuôi nào có điều kiện tài chính đều nâng cấp lên mô hình ao tròn nổi lót bạt và hầu hết đều có tỷ lệ thành công rất cao.
Xu thế phát triển mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao ngày càng lan rộng ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng và khu vực ĐBSCL nói chung. Mô hình này đã giúp sản lượng tôm trong khu vực không ngừng tăng cao trong những năm gần đây. Tại tỉnh Sóc Trăng, năm 2020 vừa qua với rất nhiều khó khăn đến từ hạn mặn, mưa bão, dịch Covid-19 nhưng sản lượng tôm vẫn tăng hai con số so với cùng kỳ, đạt 188.000 tấn. Tuy nhiên, do đa số hộ nuôi tôm có diện tích nhỏ lẻ, vốn đầu tư thấp, nên việc chuyển sang nuôi tôm theo công nghệ cao đối với họ là rất khó. Thế nhưng điều gần như không thể ấy đã trở thành hiện thực từ khi có mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao cùng sự trợ lực của ngân hàng và hệ thống đại lý. Ông Bùi Công Nhân, Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển TP Hồ Chí Minh (HDBank) chi nhánh Sóc Trăng cho biết: "Tính đến cuối năm 2020, HDBank Sóc Trăng đã đầu tư khoảng 60 tỷ đồng cho mô hình ứng dụng công nghệ cao, kể cả mô hình “mi ni” và tất cả đều cho thấy rất hiệu quả. Riêng năm 2021, chúng tôi đã chuẩn bị nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển mô hình cho người nuôi tôm tỉnh Sóc Trăng".
 |
| Công nhân vệ sinh ao nuôi tại cơ sở nuôi tôm công nghệ cao tại xã An Ngãi, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Ảnh: TTXVN |
Xu thế tất yếu
Điểm khác biệt lớn nhất của các mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao chính là việc dành ra từ 80 đến 85% diện tích cho việc xử lý nước nuôi tôm và nước thải, chất thải, còn diện tích nuôi thực tế chỉ chiếm 15-20%. Tuy diện tích dành để nuôi rất nhỏ, nhưng nhờ ưu thế thả nuôi mật độ cao, tôm đạt kích cỡ lớn và nhất là tỷ lệ nuôi thành công có nơi lên đến hơn 95% nên năng suất và hiệu quả của mô hình vượt trội so với cách nuôi ao đất truyền thống. Điều đáng ghi nhận là hầu hết các mô hình, quy trình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao đều do các doanh nghiệp cung ứng đầu vào chuyển giao. Cá biệt ở Sóc Trăng còn có doanh nghiệp tự xây dựng cho riêng mình mô hình và quy trình kỹ thuật nuôi ứng dụng công nghệ cao và họ đã thành công liên tiếp trong 8 năm nay với sản lượng mỗi năm 3.000-4.000 tấn. Hay như Công ty Cổ phần Thủy sản sạch Việt Nam (Vinacleanfood) đã mạnh dạn đầu tư 250 tỷ đồng để nâng cấp toàn bộ 133ha lên ao tròn nổi ứng dụng công nghệ cao và chỉ sau vụ đầu tiên của năm 2021 đã cho thu hoạch gần 2.000 tấn tôm. Hiện tại, vụ tôm thứ hai tuy chỉ mới khoảng 70 ngày nhưng tôm nuôi đã đạt kích cỡ 50 con/kg. Ông Võ Văn Phục, Tổng giám đốc Vinacleanfood chia sẻ: "Tuy vốn đầu tư cao nhưng bù lại mô hình nuôi ứng dụng công nghệ cao cho tỷ lệ thành công lớn, có thể nuôi tôm về kích cỡ lớn, đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu thị trường. Theo tôi, đây cũng sẽ là xu thế phát triển của nghề nuôi tôm trong thời gian tới vì nó hội tụ các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa".
Đồng quan điểm với ông Phục, Thạc sĩ Huỳnh Hàn Châu, chủ trang trại nuôi tôm cùng tên ở huyện Trần Đề (Sóc Trăng), nhận định: Đây chính là hướng đi mới cho đại đa số người nuôi tôm trong thời gian tới, kể cả người nuôi có diện tích đất nhỏ, vốn ít. “Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, thời gian qua trên thị trường có nhiều dòng tôm giống đạt chất lượng, có thể nuôi về kích cỡ 30-40 con/kg, thậm chí nuôi được đến cỡ 15-20 con/kg. Thức ăn cho tôm cũng có nhiều thương hiệu tốt, đáp ứng yêu cầu nuôi mật độ cao nhưng vẫn bảo đảm về tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và nuôi đạt kích cỡ lớn”, Thạc sĩ Huỳnh Hàn Châu phân tích.
Cũng theo Thạc sĩ Huỳnh Hàn Châu, mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao đang ngày càng lan rộng trên “vựa” tôm ĐBSCL và sẽ là xu thế phát triển chung của ngành tôm nhờ vào thành tựu quan trọng về con giống, thức ăn, công nghệ xử lý nước, công nghệ xử lý nước thải và chất thải cũng như quy trình và mô hình nuôi. Đây cũng là mô hình nuôi tôm bảo đảm được 3 yếu tố quan trọng trong mục tiêu phát triển bền vững của ngành tôm, đó là: Mang lại lợi nhuận cao cho người nuôi tôm, thông qua việc tăng năng suất, tỷ lệ thành công cao, tôm nuôi dễ đạt chuẩn; dễ ứng dụng đại trà, kể cả người nuôi có diện tích đất nhỏ; dễ quản lý môi trường vùng nuôi.
Đánh giá cao tính hiệu quả của mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, ông Trần Đình Luân, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) dự báo: Xu thế nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao tới đây sẽ còn phát triển mạnh hơn nữa nhờ lợi thế tỷ lệ thành công và lợi nhuận cao. Do đó, các địa phương cần quy hoạch lại vùng nuôi rõ ràng, cụ thể cho từng mô hình nuôi và đặc biệt là cần có giải pháp hiệu quả trong xử lý nước thải, chất thải, nhất là đối với mô hình nuôi ứng dụng công nghệ cao để bảo đảm mục tiêu kép là hiệu quả và bền vững.
Bài và ảnh: HỒNG ĐĂNG - AN XUYÊN