Năm 17 tuổi, ông tham gia cách mạng và làm liên lạc trong phong trào “Đông Dương đại hội”. Năm 1938, ông bị thực dân Pháp bắt giam. Ra tù, ông trở về quê tiếp tục hoạt động bí mật trong phong trào Nông hội đỏ. Tháng 2-1940, Lê Văn Tưởng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Chuẩn bị cho khởi nghĩa Nam Kỳ, tháng 9-1940, ông được chỉ định làm Trưởng ban Khởi nghĩa của hai làng Thạnh Lợi và Bình Hòa.
Khi khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, đêm 23-11-1940, ông chỉ huy nghĩa quân khống chế bộ máy tề làng, tước 4 khẩu súng, đốt nhà làm việc và uy hiếp đồn Thạnh Lợi, kêu gọi binh lính đầu hàng; đồng thời sẵn sàng chờ lệnh phối hợp với nghĩa quân các làng lân cận đánh chiếm quận lỵ Thủ Thừa, tiến tới phối hợp với lực lượng ở Sài Gòn tổ chức giành chính quyền trên quy mô lớn. Tuy nhiên, do điều kiện khách quan, khởi nghĩa không diễn ra tại nội đô Sài Gòn nên kế hoạch đánh chiếm quận lỵ Thủ Thừa cũng không thể thực hiện. Tuy cuộc khởi nghĩa không đạt được mục tiêu đề ra, nhưng phong trào nổi dậy ở Thạnh Lợi đã tạo tiếng vang lớn, góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân Nam Bộ. Ngay sau khởi nghĩa, thực dân Pháp đưa quân đến Thạnh Lợi bao vây, lùng sục và tiến hành khủng bố khốc liệt, gây nhiều tổn thất cho phong trào cách mạng, nhiều chiến sĩ bị bắt và sát hại. Nhà của Lê Văn Tưởng cùng hàng chục căn nhà khác ở Thạnh Lợi cũng bị đốt phá khiến gia đình ông phải lánh đi nơi khác.
Để bảo toàn lực lượng, Lê Văn Tưởng tổ chức lui quân, chủ động xây dựng địa bàn đứng chân, củng cố lực lượng và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài. Địa điểm được lựa chọn là căn cứ Mớp Xanh (còn gọi là căn cứ Bo Bo), nằm giữa sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, với lực lượng khoảng 150 người. Sau gần một tháng củng cố, tổ chức lại lực lượng, Đội du kích Thạnh Lợi do Lê Văn Tưởng chỉ huy tiếp tục tiến công đồn điền mía Hiệp Hòa, xã Hòa Khánh, huyện Đức Hòa[2], gây tiếng vang lớn và thu được một khẩu súng ngắn 6,35mm của tên đồn trưởng.
Đầu năm 1941, ông bị thực dân Pháp truy lùng và kết án tử hình vắng mặt, phải tạm lui vào hoạt động bí mật. Sau một thời gian, khi tình hình có phần lắng dịu, ông được Tỉnh ủy Tân An bố trí trở lại hoạt động công khai, về quê gây dựng lại phong trào cách mạng, giữ cương vị Ủy viên Thường vụ Huyện ủy Thủ Thừa. Trên cương vị mới, ông chú trọng xây dựng lực lượng chiến đấu, tập hợp những thanh niên tích cực ở các thôn, xóm, tổ chức huấn luyện võ nghệ và cách sử dụng các loại vũ khí thô sơ, từng bước tạo dựng lực lượng nòng cốt cho phong trào cách mạng ở địa phương.
 |
Trung tướng Lê Văn Tưởng kể chuyện chiến đấu, năm 2002. Ảnh: VĂN HƯỚNG
|
Chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông cùng các đồng chí của mình được giao nhiệm vụ hoạt động công khai, phụ trách Ủy ban Khởi nghĩa và trực tiếp lãnh đạo nhân dân Thủ Thừa giành chính quyền. Chiều 22-8-1945, dưới sự chỉ đạo của Lê Văn Tưởng và Huyện ủy Thủ Thừa, các xã đồng loạt đánh mõ, trống báo động, tạo khí thế và chuẩn bị cho khởi nghĩa. Khi địch đang hoang mang cực độ, ông nhanh chóng lệnh cho các lực lượng tiến thẳng đến dinh quận gây sức ép. Trước sức mạnh áp đảo của quân ta, địch nhanh chóng đầu hàng. Trên đà thắng lợi, Lê Văn Tưởng cùng các lực lượng tiếp tục tiến vào hạ các đồn: Thạnh Lợi, Bình Hòa, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Quý…, tịch thu hơn 40 khẩu súng các loại.
Tháng 12-1945, ông được giao nhiệm vụ làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Tân An và Chỉ huy trưởng bộ đội liên quân Chợ Lớn - Tân An, tiếp tục tổ chức chỉ huy bộ đội chiến đấu. Từ tháng 11-1949 đến tháng 3-1950, Lê Văn Tưởng được cử đi học, sau đó được điều trở về hoạt động tại Tân An. Từ tháng 3-1950 đến tháng 9-1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tân An, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Đồng Tháp, Huyện đội trưởng Huyện đội Mộc Hóa[3]. Sau đó, ông giữ chức Trưởng ban tổ chức Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Từ năm 1956-1957, ông được điều động ra Bắc làm Chính ủy Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 330. Năm 1960, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn 330.
Trước yêu cầu tăng cường đội ngũ cán bộ cho cách mạng miền Nam, ngày 7-5-1961, ông được Quân ủy Trung ương phân công trở về Nam chiến đấu trong đội hình Đoàn Phương Đông, được giao phụ trách công tác chính trị. Trước khi lên đường, ông cùng một số đồng chí được triệu tập dự hội nghị nghe phổ biến tình hình sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Theo yêu cầu của trên, các đồng chí cán bộ chủ chốt phải đổi tên để đảm bảo yếu tố bí mật. Đồng chí Lê Văn Tưởng lấy tên mới là Lê Chân[4].
Thực hiện nhiệm vụ được giao, ông nhanh chóng vào Nghệ An, Hà Tĩnh để bắt liên lạc với tiểu đoàn tiền trạm, chuẩn bị cho đoàn vượt sông Bến Hải. Dưới sự chỉ huy của Ban lãnh đạo, Đoàn đã bí mật vượt Trường Sơn, sau 3 tháng về đến Mã Đà thuộc Chiến khu Đ. Trở về miền Nam, Lê Văn Tưởng được cử làm Chủ nhiệm Chính trị Ban CHQS Xứ ủy. Thời gian này, ông còn kiêm nhiệm Chính ủy Mặt trận Bình Giã rồi Phó chính ủy Chiến dịch Đồng Xoài. Trong chiến dịch Bình Giã, trên cương vị là Chính ủy Chiến dịch, đồng chí Lê Văn Tưởng động viên cán bộ, chiến sĩ hạ quyết tâm đánh địch đạt hiệu quả cao nhất để chứng minh sức mạnh đánh địch của các trung đoàn chủ lực Miền, đồng thời thực hiện bằng được ý đồ chiến lược của Bộ tư lệnh là giải phóng vùng duyên hải Bình Châu để mở lại trạm tiếp nhận vũ khí từ hậu phương miền Bắc chuyển vào. Thắng lợi của Chiến dịch Bình Giã và Đồng Xoài đã góp phần làm thất bại “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ-ngụy.
Sau chiến thắng Bình Giã, Đồng Xoài, đồng chí Lê Văn Tưởng được giao nhiệm vụ Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Sư đoàn Bộ binh 9. Trong trận Bàu Bàng (12-11-1965), Sư đoàn 9 tổ chức ra quân đánh trận đầu. Đúng 5 giờ 3 phút, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1) nổ súng tấn công địch, mũi đột phá vượt qua tuyến bộ binh vòng ngoài, đánh thẳng vào tuyến bộ binh có xe thiết giáp ở vòng trong. Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 2) đột phá qua Đường 13 chia cắt hai cụm quân Mỹ phía Bắc và phía Nam. Từ các hướng bộ đội ta nhanh chóng thọc sâu, chia cắt quân địch thành các cụm nhỏ tiêu diệt địch. Kết quả, Sư đoàn 9 đã tiêu diệt hai tiểu đoàn bộ binh, hai chi đoàn thiết giáp, phá hỏng 39 xe, phần lớn là xe tăng, xe bọc thép và thu nhiều chiến lợi phẩm của địch. Tiếp đó trong các trận: Nhà Đỏ, Bông Trang (đêm 23, rạng sáng ngày 24-2-1966), trận Cần Đâm (tháng 6-1966), đợt phản công lần II (năm 1966-1967) của Mỹ…, dưới sự lãnh đạo của Chính ủy Lê Văn Tưởng, Sư đoàn 9 đã chiến đấu giành nhiều thắng lợi.
Từ năm 1967 đến năm 1970, ông lần lượt giữ các chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ tư lệnh Miền, Ủy viên Quân ủy Miền kiêm Bí thư, Chính ủy Khu Đông Bắc, Bí thư kiêm Chính ủy Chiến dịch Chen-La 2. Tháng 9-1972, ông là Phó chính ủy Bộ tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Văn Tưởng cùng Tư lệnh Lê Đức Anh chỉ huy hai cánh quân hướng Tây và Nam tiến vào giải phóng Sài Gòn.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông liên tục đảm nhiệm các chức vụ: Chính ủy Quân khu 9, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đến năm 1990, ông được Nhà nước cho nghỉ hưu chế độ.
Từ Nam Kỳ khởi nghĩa đến những năm đầu đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, trải qua hơn 5 thập kỷ hoạt động cách mạng, chiến đấu và công tác, “trong bất cứ cương vị nào, anh Hai Lê đều thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc chấp hành cấp trên, đồng cam cộng khổ với đồng chí, đồng đội”[5]. Cuộc đời Trung tướng Lê Văn Tưởng là một chặng đường hoạt động cách mạng đầy gian khổ, một tấm gương sáng về bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng.
Với những đóng góp trong sự nghiệp cách mạng, ông được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, tiêu biểu như: Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc và nhiều phần thưởng cao quý khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách Khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H.2004.
2. Bộ Quốc phòng, Quân khu 7, Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1975), Nxb CTQG, H.2004.
3. Sự kiện và nhân chứng - Nguyệt san Báo Quân đội nhân dân số ra ngày Chủ nhật (8-12-2025).
4. Trung tướng Lê Văn Tưởng, Hồi ký “Con đường tôi đã chọn”, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006.
5. Trương Nguyên Tuệ, Một nghĩa quân nam kỳ khởi nghĩa - Một cán bộ quân đội ưu tú. Bài viết đăng trên Cổng thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13-12-2016.
[1] Bí danh Lê Chân, Hai Lê.
[2] Nay là xã Hòa Khánh, tỉnh Tây Ninh.
[3] Mộc Hóa lúc này là huyện trực thuộc Khu 8, là địa bàn chủ yếu của căn cứ Đồng Tháp Mười.
[4] Tên con trai đầu lòng của ông.
[5] Thượng tướng Hoàng Cầm: Lời tựa cuốn Hồi ký “Con đường tôi đã chọn” của Trung tướng Lê Văn Tưởng, Nxb Quân đội nhân dân, H.2006.