Tháo gỡ các điểm nghẽn
Những năm qua, kinh tế Khánh Hòa duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Giai đoạn 2021-2025, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng bình quân 8,2%/năm; quy mô nền kinh tế năm 2025 ước đạt 209,3 nghìn tỷ đồng. Trong đó, nhiều lĩnh vực gắn với không gian biển giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Du lịch biển, đảo tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn. Năm 2025, Khánh Hòa đón khoảng 16,4 triệu lượt khách, trong đó có 5,5 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu du lịch đạt khoảng 67 nghìn tỷ đồng. Cùng với du lịch, thủy sản là một thế mạnh nổi bật, với sản lượng tôm giống chiếm khoảng 36% thị phần toàn quốc, kim ngạch xuất khẩu thủy sản chiếm 44,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Không gian biển còn được hỗ trợ bởi hệ thống cảng nước sâu, Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh và mạng lưới giao thông liên vùng ngày càng hoàn thiện. Các cảng Bắc Vân Phong, Nam Vân Phong, Cà Ná tạo thêm dư địa phát triển công nghiệp, dịch vụ cảng biển, logistics.
Tuy nhiên, địa phương cũng nhìn nhận, phát triển kinh tế biển còn một số điểm nghẽn: Quy mô, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng hệ thống vịnh nước sâu, cảng biển và cửa ngõ kết nối Tây Nguyên. Các ngành trụ cột chưa hình thành chuỗi giá trị khép kín; dịch vụ hậu cần sau cảng, kho lạnh, trung tâm phân phối còn thiếu. Quản trị không gian biển và vùng bờ chưa đồng bộ, dữ liệu còn phân tán. Khoa học, công nghệ biển chưa trở thành động lực dẫn dắt; áp lực ô nhiễm môi trường, suy thoái hệ sinh thái và khắc phục cảnh báo “thẻ vàng” IUU vẫn là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài.
Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng chưa thật sự hiệu quả; nguồn lực đầu tư còn phân tán; việc cụ thể hóa quy hoạch thành dự án và sản phẩm đầu ra còn chậm; năng lực quản trị dựa trên dữ liệu, quản trị rủi ro và quản lý theo hệ sinh thái chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới.
Theo đồng chí Hoàng Anh Hào, Phó chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa), để tạo bước chuyển mới, ngành thủy sản đang tập trung chuyển từ phương thức sản xuất nhỏ lẻ sang tổ chức theo vùng, theo chuỗi; đẩy mạnh nuôi biển công nghệ cao, ứng dụng lồng bè vật liệu mới, số hóa dữ liệu quản lý, đồng thời kiểm soát chặt đội tàu, cảng cá và truy xuất nguồn gốc hải sản. Đây là hướng đi nhằm vừa nâng cao giá trị kinh tế, vừa bảo đảm khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển.
 |
Nuôi biển công nghệ cao tại vùng biển Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: ĐẶNG TUẤN
|
Vừa qua, tại Kỳ họp thứ hai, HĐND tỉnh Khánh Hòa khóa VIII, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thông qua nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi lồng bè nuôi biển từ vật liệu truyền thống sang vật liệu mới. Dự kiến, giai đoạn 2026-2029, tỉnh dành 59,2 tỷ đồng hỗ trợ người dân chuyển đổi lồng bè nuôi biển sang lồng công nghệ cao. Chính sách được kỳ vọng tạo thêm động lực thúc đẩy nuôi biển hiện đại, giảm thiệt hại do thiên tai, từng bước nâng cao hiệu quả và hướng đến phát triển bền vững.
Vận dụng những chính sách hợp lý
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28-7-2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và Chương trình hành động số 34-CTr/TW ngày 28-7-2026 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy khai thác sang quản trị biển hiện đại; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực phát triển quốc gia biển mạnh.
Với Khánh Hòa, yêu cầu ấy càng rõ khi không gian biển được mở rộng. Muốn quản trị tốt không gian biển, trước hết phải có dữ liệu đầy đủ, thống nhất và được cập nhật. Trên cơ sở đó, các hoạt động nuôi biển, du lịch, cảng biển, năng lượng, bảo tồn có thể được bố trí hợp lý, hạn chế chồng lấn, giảm xung đột lợi ích và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Cùng với quản trị hiện đại là yêu cầu đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực của kinh tế biển. Việc triển khai đề án thành lập Trung tâm nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương tại Khánh Hòa mở ra hướng phát triển mới, tạo điều kiện để địa phương tiếp cận, ứng dụng và làm chủ những công nghệ phục vụ hàng hải, sinh học biển, nuôi biển công nghiệp và bảo vệ môi trường. Đây cũng là tinh thần được cụ thể hóa trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 28-1-2022 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các cơ chế, chính sách đặc thù không chỉ nhằm tạo thêm nguồn lực đầu tư mà quan trọng hơn là tạo dư địa để địa phương lựa chọn đúng những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá, hình thành các cực tăng trưởng và chuỗi giá trị mới.
Trong quá trình đó, các cơ chế, chính sách đặc thù cần được vận dụng đúng trọng tâm, tạo thuận lợi thu hút nhà đầu tư chiến lược, phát triển hạ tầng đồng bộ, thúc đẩy các ngành kinh tế biển xanh và nâng cao năng lực khoa học, công nghệ. Quan trọng không kém là đổi mới phương thức điều hành, xác định rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền, để chính sách nhanh chóng được chuyển hóa thành kết quả cụ thể.
 |
| Nuôi cá trong lồng HDPE tại khu vực Đầm Bấy, phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: BÁ DUY |
Khẳng định định hướng phát triển từ biển, đồng chí Nguyễn Việt Hùng, Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, cho biết: “Khánh Hòa chọn vươn lên từ biển và kiên định gìn giữ màu xanh của biển. Mỗi bước phát triển phải hài hòa với thiên nhiên và có trách nhiệm với mai sau. Phát triển từ biển phải tạo ra thịnh vượng, nâng cao đời sống người dân và để lại một vùng biển trong xanh. Đó là con đường để Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030, trung tâm dịch vụ, du lịch và kinh tế biển có vị thế quốc tế”.
Cùng với phát triển kinh tế biển, xây dựng thế trận bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển là nhiệm vụ không thể tách rời. Trong đó, đặc khu Trường Sa là phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; xây dựng đặc khu vững mạnh có ý nghĩa quan trọng đối với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đồng chí Phạm Thanh Liêm, Chủ tịch UBND đặc khu Trường Sa cho rằng, xây dựng đặc khu Trường Sa vững mạnh phải gắn chặt phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh. Cùng với nâng cao năng lực của các công trình dịch vụ hậu cần nghề cá, hạ tầng năng lượng, nước ngọt và thiết chế dân sinh, xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển ngày càng vững chắc, tạo điểm tựa để ngư dân vươn khơi, bám biển. Khi kinh tế biển được tổ chức tốt, đời sống người dân được nâng lên, thế trận bảo vệ chủ quyền cũng được củng cố.