Thương mại song phương tăng tốc

Sau 6 năm thực thi, EVFTA đã mang lại những tác động tích cực đối với quan hệ thương mại Việt Nam-EU. Số liệu trong 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy kim ngạch thương mại song phương đạt 41,4 tỷ USD. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu 31,8 tỷ USD và nhập khẩu 9,7 tỷ USD, ghi nhận mức xuất siêu khoảng 22 tỷ USD. Đáng chú ý, mức xuất siêu này đã vượt mức 21,7 tỷ USD của cả năm 2019, thời điểm EVFTA chưa chính thức có hiệu lực.

Số liệu của Cục Hải quan cũng cho thấy, tổng kim ngạch thương mại Việt Nam-EU đạt hơn 900 tỷ USD trong giai đoạn từ tháng 1-1995 đến tháng 6-2026. Thế mà chỉ trong 6 năm kể từ khi EVFTA chính thức có hiệu lực, đã có 383,8 tỷ USD, tương đương 42,6% tổng kim ngạch trong hơn 3 thập kỷ được tạo ra. Đáng chú ý, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu được cấp quy tắc xuất xứ (C/O) ưu đãi theo EVFTA đã tăng từ 14,8% năm 2020 lên khoảng 35,1% năm 2025, với kim ngạch hàng hóa được cấp C/O tăng lên khoảng 18,13 tỷ USD. Con số này cho thấy năng lực tận dụng EVFTA đã tiến bộ rõ rệt, nhưng cũng đồng thời cho thấy dư địa còn rất lớn.

 Hoạt động sản xuất tại Công ty Cổ phần Xuân Hòa Việt Nam.

Đánh giá về sức bật của quan hệ thương mại song phương, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) Jean-Jacques Bouflet, người từng tham gia đoàn đàm phán của EU về EVFTA, cho rằng hiệp định đã hình thành một hệ sinh thái kinh tế có tính bổ trợ cao, trong đó mỗi bên phát huy thế mạnh để cùng phát triển. Các sản phẩm châu Âu như công nghệ cao, máy móc, thiết bị tiên tiến và dược phẩm góp phần nâng cao năng suất công nghiệp của Việt Nam. Ngược lại, các ngành điện tử, cơ khí, dệt may, da giày, đồ gỗ và nông sản của Việt Nam đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng và thị trường tiêu dùng châu Âu.

Hiệu quả của EVFTA còn thể hiện ở việc Việt Nam ngày càng được các doanh nghiệp châu Âu coi là địa bàn quan trọng trong chiến lược phát triển tại châu Á. Theo Chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) quý II-2026 của EuroCham, 55% doanh nghiệp EU tham gia khảo sát coi Việt Nam là trung tâm hoạt động cốt lõi hoặc địa bàn tăng trưởng trọng điểm, trong khi 22% xác định Việt Nam là một cấu phần quan trọng trong mạng lưới khu vực. Việt Nam đã nâng tầm vị thế để trở thành nền tảng cạnh tranh cho chiến lược mở rộng dài hạn tại châu Á. 

Từ xóa bỏ thuế quan đến đồng bộ khuôn khổ pháp lý

EVFTA đang bước vào giai đoạn thực thi quan trọng, nhất là các ưu đãi về thuế quan sẽ được thực thi. EU chính thức hoàn tất lộ trình tự do hóa thương mại, mở rộng cánh cửa miễn thuế cho 99% các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Về phía Việt Nam, tiến trình cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa EU sẽ tiếp tục được triển khai theo lộ trình trong 4 năm tới và hoàn thành vào năm 2030 (tròn 10 năm EVFTA). 

Nhưng khi các rào cản thuế quan rõ ràng dần được gỡ bỏ thì hiện nay thách thức chính lại là những yêu cầu mới khắt khe từ thị trường. Theo Phó chủ tịch EuroCham Jean-Jacques Bouflet, EVFTA không chỉ là câu chuyện thuế quan mà còn bao gồm các yêu cầu về hải quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ và phát triển bền vững. Đặc biệt, các quy định về môi trường, truy xuất nguồn gốc và chuỗi cung ứng như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) hay các quy định tại Thỏa thuận Xanh châu Âu (European Green Deal) đang ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn. Do đó, năng lực tuân thủ sẽ quyết định khả năng duy trì lợi thế xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. Việc đơn giản hóa thủ tục hải quan, đẩy nhanh hoàn thuế, số hóa chứng từ và làm rõ quy tắc xuất xứ sẽ giúp doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa tận dụng tốt hơn các ưu đãi từ EVFTA.

Để hỗ trợ doanh nghiệp khai thác hiệu quả hơn các ưu đãi từ EVFTA, tháng 3-2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 14/2026/TT-BCT quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong EVFTA nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế chứng nhận xuất xứ. Tuy nhiên, để hưởng ưu đãi thuế, doanh nghiệp không chỉ cần nắm chắc quy định mà còn phải kiểm soát chặt nguồn nguyên liệu, truy xuất được chuỗi cung ứng và có đầy đủ hồ sơ chứng minh xuất xứ. Thêm vào đó, cùng với cơ hội mở rộng thị trường, rủi ro phòng vệ thương mại cũng gia tăng khi hàng Việt Nam ngày càng hiện diện sâu hơn tại EU. Các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự vệ có thể phát sinh, đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải chủ động xây dựng hệ thống kế toán, dữ liệu giá thành và hồ sơ xuất xứ minh bạch.