Đột phá đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Phóng viên (PV): Thưa đồng chí Giám đốc, thời gian qua, Học viện Kỹ thuật Quân sự đã tạo bước đột phá như thế nào trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao?
Trung tướng, GS, TS Lê Minh Thái: Học viện xác định đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ trung tâm, là yếu tố then chốt góp phần xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, lưỡng dụng, hiện đại; đáp ứng yêu cầu làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Hiện nay, Học viện triển khai đào tạo ở cả 3 bậc đại học, thạc sĩ, tiến sĩ với 60 ngành, 160 chương trình đào tạo; 9/10 lĩnh vực thuộc công nghệ chiến lược. Học viện chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, tham mưu, đề xuất đào tạo nhiều ngành, chuyên ngành công nghệ chiến lược, công nghệ mới, như: Phương tiện bay không người lái (UAV); trí tuệ nhân tạo (AI); phân tích dữ liệu; thiết kế vi mạch và hệ thống nhúng; công nghệ bán dẫn và nano; an toàn thông tin; tự động hóa chỉ huy; tên lửa đất đối đất...
 |
Trung tướng, GS, TS Lê Minh Thái trao đổi với học viên về định hướng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học quân sự. Ảnh: HOÀNG PHÚC
|
Đồng thời, xây dựng KHCN theo hướng thiết kế, chế tạo các trang bị kỹ thuật như: Vũ khí; đạn; tên lửa; ra-đa; trang thiết bị viễn thông... Học viện được Chính phủ lựa chọn là cơ sở đào tạo trọng điểm quốc gia về an toàn thông tin và an ninh mạng, AI, công nghệ bán dẫn và công nghệ mạng thế hệ sau. Ngoài ra, Học viện đã nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng định hướng đào tạo nhân lực cho những lĩnh vực mới như công nghệ lượng tử, kỹ thuật địa vật lý, hàng không vũ trụ...
Đề án đào tạo kỹ sư quân sự chất lượng cao với kết quả rất tích cực, Học viện đã tuyển chọn, đào tạo 3 khóa học viên chất lượng cao chuyên ngành thông tin và an ninh hệ thống thông tin theo định hướng hợp tác với các trường đại học uy tín ở nước ngoài. Trong đó, Đại học Công nghệ Sydney (Australia) đánh giá cao và công nhận kết quả đào tạo giai đoạn 1 tại Học viện và tiếp nhận học viên sang đào tạo giai đoạn 2.
Học viện cũng đã khảo sát nhu cầu tại các đơn vị trong toàn quân, đề xuất Bộ Quốc phòng cơ chế xác định nhu cầu đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
PV: Cùng với mở rộng quy mô, Học viện đã làm gì để chất lượng đào tạo tiệm cận chuẩn quốc tế và gắn chặt với thực tiễn?
Trung tướng, GS, TS Lê Minh Thái: Chúng tôi luôn quán triệt phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”. Vì vậy, yêu cầu xuyên suốt là chương trình đào tạo phải hiện đại, người học được tiếp cận thực tiễn và sau khi tốt nghiệp có khả năng nhanh chóng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nội dung thường xuyên được cập nhật kiến thức về vũ khí, trang bị hiện đại và các công nghệ mới; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, AI trong dạy và học; chuẩn hóa hệ thống giáo trình, tài liệu.
Học viện đã triển khai các chương trình đào tạo hai giai đoạn ở trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ với các cơ sở đào tạo tiên tiến trên thế giới. Ở bậc sau đại học, Học viện tăng cường mời chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy, đồng hướng dẫn; gửi học viên, nghiên cứu sinh thực tập tại các phòng thí nghiệm của những cơ sở đào tạo uy tín trên thế giới.
 |
| Trung tướng, GS, TS Lê Minh Thái. Ảnh: HOÀNG PHÚC |
Cùng với đó, chúng tôi chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên có chuyên môn cao, phương pháp giảng dạy hiện đại và năng lực ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu hội nhập; thường xuyên tổ chức tập huấn tại các cơ sở đào tạo nước ngoài và mời chuyên gia quốc tế đến Học viện trao đổi chuyên môn, phương pháp giảng dạy. Xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm, phòng học chuyên dùng, trạm xưởng thực hành theo hướng đồng bộ, hiện đại; đồng thời chủ động đề xuất đầu tư các phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu công nghệ mới, công nghệ chiến lược. Ngoài ra, Học viện đang triển khai thực hiện các mô hình “Sư phạm thông minh”, “Lớp học đảo ngược”, ứng dụng công nghệ mô phỏng, AI và triển khai đồng bộ hệ quản trị đại học số. Mục tiêu là xây dựng môi trường đào tạo hiện đại, lấy người học làm trung tâm, từng bước tiệm cận chuẩn quốc tế.
Biến tiềm lực trí tuệ thành năng lực công nghệ thực chất
PV: Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định KHCN là động lực phát triển. Học viện đã quán triệt và triển khai nghị quyết này như thế nào để tạo đột phá trong nghiên cứu khoa học?
Trung tướng, GS, TS Lê Minh Thái: Học viện quán triệt nghiêm túc, sâu sắc Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số. Trên cơ sở đó thúc đẩy 3 chuyển dịch quan trọng: Từ nghiên cứu theo khả năng sang nghiên cứu theo yêu cầu nhiệm vụ; từ các đề tài đơn lẻ sang các chương trình KHCN có mục tiêu và sản phẩm rõ ràng; từ tạo ra kết quả nghiên cứu sang làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm. Mục tiêu cuối cùng là biến tiềm lực trí tuệ của Học viện thành năng lực công nghệ thực chất, góp phần xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.
PV: Những kết quả nào đã khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của Học viện trong thời gian qua, thưa đồng chí?
Trung tướng, GS, TS Lê Minh Thái: Học viện đã rà soát, xác lập các hướng nghiên cứu chiến lược; chủ động đăng ký, triển khai các sản phẩm trọng điểm; tổ chức lực lượng theo hướng liên ngành, gắn nghiên cứu với yêu cầu sử dụng và khả năng sản xuất. Nhờ đó, hoạt động KHCN phát triển cả về quy mô, chất lượng và mức độ đóng góp trực tiếp cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.
Nhiều kết quả đã vượt qua phạm vi phòng thí nghiệm, được chế thử, hoàn thiện và đưa vào sản xuất loạt “0”, một số sản phẩm tiêu biểu, như: Hệ thống pháo tự hành PTH-130; hệ thống điều khiển hỏa lực 12,7mm; hệ thống pháo phản lực phóng loạt WM-18.VN; súng và đạn bắn 2 môi trường, mìn định hướng đào sâu đáy biển...; hệ thống dẫn đường quán tính; hệ thống huấn luyện chiến thuật bằng laser; công nghệ cảm biến chiếu xạ laser; súng và đạn xuyên giáp thế hệ mới... Đây là minh chứng rõ nhất cho khả năng giải quyết các bài toán khó, phức tạp, có yêu cầu cao về tích hợp hệ thống và độ tin cậy.
Học viện từng bước làm chủ nhiều công nghệ nền tảng, công nghệ lõi như chế tạo quang trở cho đầu tự dẫn tên lửa, pin nhiệt dùng cho tên lửa, AI phục vụ quốc phòng, xử lý ảnh ra-đa khẩu độ tổng hợp, bán dẫn và chip bảo mật trên nền RISC-V. Học viện cũng tham gia nhiều dự án lớn của Bộ Quốc phòng về thiết kế, chế tạo xe thiết giáp XCB-01, XTC-02, XTC-03; xe tăng hạng nhẹ T-1; bộ cầu phao BCP-01; cải tiến xe tăng T-54B; chế tạo ra-đa cảnh giới RV-02...
Nền tảng của những kết quả đó là đội ngũ gần 1.000 cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, trong đó có hơn 500 tiến sĩ và hơn 100 giáo sư, phó giáo sư. Trong 5 năm qua, Học viện công bố hơn 5.000 bài báo khoa học, trong đó hơn 3.000 bài quốc tế, hơn 1.200 bài thuộc WoS/Scopus; được cấp 10 bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích và công nhận 53 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật.
PV: Để trở thành trung tâm nghiên cứu hàng đầu về KHCN, Học viện tập trung vào những hướng đột phá nào trong thời gian tới, thưa đồng chí?
Trung tướng, GS, TS Lê Minh Thái: Học viện được Bộ Quốc phòng chỉ đạo, giao nhiệm vụ xây dựng Học viện trở thành trung tâm nghiên cứu KHCN hàng đầu của Quân đội và quốc gia. Theo đó, Học viện phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu, ĐMST trên 3 trụ cột gắn kết: Nghiên cứu cơ bản; làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; nghiên cứu ứng dụng tạo sản phẩm. Trong đó, ưu tiên các công nghệ chiến lược như AI, khoa học dữ liệu, vi mạch bán dẫn, robot, UAV, tự động hóa chỉ huy, quang điện tử, an ninh mạng, vật liệu tiên tiến, mô phỏng và công nghệ địa không gian; đồng thời phát triển công nghệ lưỡng dụng phục vụ quốc phòng và kinh tế-xã hội.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Học viện tập trung 4 đột phá. Một là, đào tạo tinh hoa, chất lượng cao; tăng tỷ lệ đào tạo sau đại học, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Hai là, tổ chức các chương trình KHCN lớn, có mục tiêu và sản phẩm cụ thể; kiên trì giải quyết việc khó, việc dài hạn và những bài toán cấp thiết từ thực tiễn quân sự. Ba là, phát huy vai trò của các viện, trung tâm, nhóm nghiên cứu mạnh; tăng cường gắn kết Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, đưa nhanh kết quả KHCN vào thực tiễn. Bốn là, mở rộng hợp tác quốc tế có chọn lọc, chuyển từ tiếp nhận tri thức, công nghệ sang hợp tác nghiên cứu, đồng sáng tạo, làm chủ và phát triển công nghệ.
PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!