Trong tháng 9 tập trung công nghệ chiến lược
Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành nhiều quyết định quan trọng, trong đó có Quyết định 1483/QĐ-TTg về phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tập trung cho công nghệ chiến lược; Quyết định 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Cùng với đó là Quyết định 1624/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 và các thông tư quy định cơ chế tài chính, trình tự tài trợ, đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.
Trong tháng, Bộ thành lập và phát triển Mạng lưới chuyên gia AI Việt Nam toàn cầu, nhằm kết nối, huy động nguồn lực chuyên gia trong nước và quốc tế cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng AI và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Bộ cũng thúc đẩy hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với Australia và Singapore. Việt Nam - Australia ký biên bản ghi nhớ về kinh tế số, trong khi hợp tác Việt Nam - Singapore tập trung vào hạ tầng số, định danh điện tử VNeID - Singpass, AI, bán dẫn và các công nghệ mới. Đáng chú ý, Bộ đã đàm phán thành công với cơ quan quản lý Hoa Kỳ về tần số, quỹ đạo vệ tinh băng Ka, đáp ứng nhu cầu triển khai dự án VINASAT-3.
Số liệu của báo cáo cho thấy, từ ngày 15-7 đến ngày 14-8, Việt Nam có 2.647 công bố quốc tế trên cơ sở dữ liệu Scopus. Đến ngày 15-8, nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) đạt 4,7 tỷ giao dịch, với 100% địa phương kết nối, chia sẻ dữ liệu. Cả nước hiện có 968 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và 20 đơn vị sàn giao dịch khoa học và công nghệ. Lĩnh vực công nghiệp công nghệ số tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng cao. Doanh thu tháng 8 ước đạt 680.586 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2025; kim ngạch xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa công nghệ số đạt khoảng 22,4 tỷ USD, tăng 41%.
Tháng 9-2026, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục hoàn thiện các dự án luật về khoa học, công nghệ và sở hữu trí tuệ; xây dựng Đề án đất hiếm và các nghị định sửa đổi trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bộ tập trung triển khai hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; tổ chức các nhiệm vụ công nghệ chiến lược sau thẩm định, xây dựng định hướng nghiên cứu cơ bản ưu tiên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2035. Cùng với đó, Bộ ưu tiên đầu tư hạ tầng điện, viễn thông tại các thôn, bản chưa có điện, chưa có sóng; tiếp tục phát triển hạ tầng cho công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, công nghiệp không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp và công nghiệp lượng tử.
 |
| Quang cảnh họp báo thường kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. |
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0: Xác định dữ liệu là tài sản chiến lược
Tại họp báo thường kỳ tháng 8-2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ, đồng chí Mai Thùy Ngân, Giám đốc Trung tâm Công nghệ - Chính phủ số (Cục Chuyển đổi số quốc gia) đã thông tin về Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0.
Theo đó, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là căn cứ để xây dựng, phát triển, nâng cấp và vận hành hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số của các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kết nối, liên thông, chia sẻ, sử dụng chung, kế thừa tối đa các thành phần hiện có phù hợp, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp, lãng phí và đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng các công nghệ mới trong tương lai.
Mỗi cơ quan có thể duy trì khung kiến trúc riêng, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền. Tuy nhiên, các hệ thống phải tuân thủ một cấu trúc, nguyên tắc và yêu cầu liên thông thống nhất.
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số gồm 4 lớp: Hạ tầng số và an ninh mạng; dữ liệu và nền tảng lõi; ứng dụng và nghiệp vụ dùng chung; kênh tương tác và đo lường hiệu quả. Bên cạnh đó là 4 thành phần xuyên suốt gồm quản trị, điều phối và giám sát; tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật chung; ưu tiên trí tuệ nhân tạo (AI First); lấy dữ liệu làm trung tâm (Data-centric). Cấu trúc này nhằm vừa bảo đảm tính đặc thù của từng cơ quan, vừa tạo khả năng đối chiếu và liên thông trên quy mô toàn quốc.
Nguyên tắc đầu tư theo Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số cũng được thay đổi theo hướng ưu tiên sử dụng hạ tầng, nền tảng và dịch vụ sẵn có, với tiêu chí: "xây dựng một lần, sử dụng nhiều lần". Việc đầu tư mới chỉ được xem xét khi các thành phần hiện có không đáp ứng yêu cầu.
Khung kiến trúc đồng thời xác định dữ liệu là tài sản chiến lược, yêu cầu dữ liệu bảo đảm các tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống". Các yếu tố về an toàn, bảo vệ quyền riêng tư, quản trị AI và ưu tiên sử dụng điện toán đám mây (Cloud First) cũng được tích hợp ngay từ khâu thiết kế hệ thống.
Một điểm mới khác trong nội dung quy định Khung kiến trúc là tăng cường quản trị vòng đời dự án, từ lập dự án đến vận hành, thông qua Hệ thống quản lý quốc gia số (NDS) do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý. Việc đánh giá được định hướng chuyển từ định tính sang định lượng, dựa trên hệ thống chỉ số KPI và dữ liệu tự động. Về lộ trình, trong vòng 6 tháng kể từ thời điểm khung được ban hành vào tháng 7-2026, các cơ quan, tổ chức phải hoàn thành việc xây dựng mới hoặc cập nhật khung kiến trúc số của mình.
 |
| Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo thông tin tại buổi họp báo. |
Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI, kinh tế AI đạt khoảng 6% GDP, năng suất lao động trong các ngành ứng dụng AI tăng 10-15% và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI đạt khoảng 5 tỷ USD. Chiến lược đồng thời xác định chuyển từ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI sang chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI.
Theo nội dung được xây dựng tại chiến lược, AI không chỉ được đặt trong phạm vi nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ mà trở thành một năng lực cốt lõi trong xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành các hoạt động của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội. Nhân lực, hạ tầng và dữ liệu được xác định là nền tảng; thể chế và quản trị AI là khâu đột phá. Việc triển khai gắn với trách nhiệm của người đứng đầu, lấy con người làm trung tâm, đồng thời phổ cập kỹ năng AI cho người dân và phát triển đồng bộ hạ tầng, dữ liệu, mô hình, nền tảng AI, bảo đảm an toàn, an ninh và chủ quyền.
Chiến lược nêu rõ mục tiêu, đến năm 2030, Việt Nam có 60% doanh nghiệp ứng dụng AI cải thiện hiệu quả; 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng AI trong công vụ hằng tuần; 60% quyết định điều hành được hỗ trợ bởi dữ liệu và AI; mức độ hài lòng với dịch vụ công có AI tăng ít nhất 30%. Ở khu vực công, 100% bộ, ngành, địa phương phải có kế hoạch triển khai AI; 100% dịch vụ công trực tuyến và hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ bởi AI. Chiến lược cũng đặt mục tiêu hình thành nền tảng điều phối năng lực tính toán AI quốc gia, nền tảng đánh giá mô hình AI tiếng Việt, ít nhất 5 nền tảng AI dùng chung, 10 thương hiệu AI Việt Nam và 8 mô hình AI tiếng Việt theo 4 quy mô.