Dự án “Phát triển công nghệ làm liền vết thương thông minh bằng màng hydrogel kết hợp với berberine và exosome từ tế bào gốc trung mô dây rốn” được hai học sinh Phạm Phương Hiền (lớp 12C3) và Trần Việt Hùng (lớp 11B1), Trường THPT Chu Văn An (tỉnh Lai Châu) cùng nghiên cứu trong hơn một năm qua.
 |
Tiến sĩ Lee, Ju Hyung, Chủ tịch Olympic Sáng chế và Phát minh Thế giới (thứ hai, từ trái sang) cùng học sinh Phạm Phương Hiền và Trần Việt Hùng. Ảnh: NVCC
|
Hành trình bắt đầu từ một câu hỏi rất đời thường
Từ vùng đất miền núi còn nhiều khó khăn, đây là lần đầu hai bạn trẻ bước ra một sân chơi khoa học quốc tế. Ít ai biết rằng, phía sau tấm Huy chương Vàng ấy, cả hai đã phải đối mặt với những lần thử nghiệm rồi thất bại và cả nhiều tháng chỉ để luyện cách trình bày bằng tiếng Anh.
Không phải từ một phòng nghiên cứu hiện đại hay một ý tưởng quá xa vời, đề tài của hai học sinh bắt đầu bằng một câu hỏi giản dị nhưng cũng khá bất ngờ bởi đây là lĩnh vực rất khó, chuyên ngành sâu: “Liệu có thể tạo ra một loại vật liệu giúp những vết thương khó lành phục hồi tốt hơn hay không?”.
Từ trăn trở ấy, Phạm Phương Hiền và Trần Việt Hùng tìm hiểu hàng loạt tài liệu về hydrogel, berberine và exosome từ tế bào gốc trung mô dây rốn. Mỗi khái niệm đều mới mẻ, nhiều thuật ngữ vượt xa chương trình phổ thông.
Gần một năm sau, dự án dần thành hình với mục tiêu tạo ra một loại màng hydrogel có khả năng giữ ẩm, kháng khuẩn, giảm viêm và hỗ trợ tái tạo mô cho các vết thương sâu, vết thương mãn tính hoặc bỏng diện rộng.
Nói về quá trình thực hiện đề tài, Phạm Phương Hiền không nhắc nhiều đến tấm huy chương. Điều em nhớ nhất lại là những lần cả nhóm phải điều chỉnh từng công thức vì màng hydrogel chưa đạt độ dày, độ mềm hoặc khả năng giải phóng hoạt chất như mong muốn. "Chúng em phải đọc rất nhiều tài liệu, làm đi làm lại các thí nghiệm rồi dựa trên số liệu thực nghiệm để lựa chọn phương án tối ưu", Hiền kể.
Bền bỉ theo đuổi một ý tưởng đến cùng
Lần đầu tiên tham gia một cuộc thi quốc tế, Trần Việt Hùng thừa nhận áp lực lớn nhất không nằm ở chất lượng dự án mà ở việc phải tự tin bảo vệ công trình trước Ban giám khảo hoàn toàn bằng tiếng Anh. Hùng chia sẻ: "Là học sinh đến từ tỉnh miền núi, em có chút lo lắng. Nhưng em nghĩ điều quan trọng không phải mình đến từ đâu mà là mình đã chuẩn bị và nỗ lực như thế nào".
Suốt nhiều tháng trước cuộc thi, hai học sinh luyện phát âm, học thuật ngữ chuyên ngành, tập trả lời hàng chục câu hỏi giả định và nhiều lần đứng trước thầy cô để tập thuyết trình. Cả Huyền và Hùng đều hiểu rằng, một nghiên cứu tốt sẽ khó được ghi nhận nếu không thể truyền tải rõ ràng đến hội đồng giám khảo.
Ngày hai học trò bước lên bục nhận Huy chương Vàng, thầy giáo Nguyễn Văn Truyền, giáo viên Trường THPT Chu Văn An (Lai Châu) không giấu được xúc động. Theo thầy, điều đáng quý nhất ở Hiền và Hùng không chỉ là năng lực nghiên cứu mà còn là tinh thần đoàn kết, kiên trì và không ngại khó.
Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lai Châu Vũ Tiến Hóa cho rằng, thành tích ấy là kết quả của một quá trình bền bỉ học tập, nghiên cứu, đồng thời góp phần khẳng định trí tuệ và bản lĩnh của học sinh Việt Nam trên đấu trường quốc tế.
Điều thú vị là khi được hỏi về tương lai, cả Hiền và Hùng đều không nói nhiều về tấm Huy chương Vàng. Hiền mong muốn tiếp tục theo học y học hoặc công nghệ sinh học để nghiên cứu các giải pháp chăm sóc sức khỏe. Hùng vẫn muốn theo đuổi nghiên cứu khoa học và tiếp tục trau dồi tiếng Anh.
Có lẽ, giá trị lớn nhất mà WICO 2026 mang lại không chỉ là một tấm huy chương. Đó là minh chứng rằng khoảng cách địa lý chưa bao giờ quyết định giới hạn của tri thức. Từ một ngôi trường ở miền núi tỉnh Lai Châu đến sân khấu khoa học quốc tế, điều đưa hai học sinh bước lên bục vinh quang không phải xuất phát điểm, mà là gần một năm bền bỉ theo đuổi một ý tưởng đến cùng.