Thực tiễn vận hành nhiều thập niên qua, hệ thống giáo dục đại học công lập đã chạm trần phát triển bởi sự phân mảnh, manh mún và cơ chế quản trị xơ cứng. Cùng với những thay đổi căn bản về hành lang pháp lý khi bãi bỏ Hội đồng trường và áp lực từ các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, việc tái cấu trúc không còn là sự lựa chọn duy lý thuần túy, mà đã trở thành mệnh lệnh lịch sử để giáo dục đại học phát triển.

Giới hạn của mô hình phân mảnh

Nhìn lại hành trình phát triển của đất nước, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xưởng từ Đại hội VI năm 1986 đã giải phóng thành công sức sản xuất, đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, bước vào Kỷ nguyên phát triển mới, mô hình tăng trưởng dựa vào thâm dụng tài nguyên thô và lao động giá rẻ đã hoàn toàn chạm ngưỡng. Muốn vượt qua bẫy thu nhập trung bình và vươn mình trở thành quốc gia phát triển, bệ phóng cốt lõi bắt buộc phải là tri thức, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong cấu trúc đó, giáo dục đại học công lập đóng vai trò là "máy kéo" tri thức, là nơi tích tụ và giải phóng sức sản xuất trí tuệ của dân tộc.

 Thí sinh dự kỳ thi tuyển sinh vào Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh qdnd.vn

Tuy nhiên, thực tiễn vận hành của hệ thống giáo dục đại học công lập sau nhiều thập niên lại đang bộc lộ những hạn chế mang tính hệ thống. Hàng loạt trường đại học đơn ngành quy mô nhỏ hoạt động như những "ốc đảo cô lập", không đủ tiềm lực tài chính lẫn nhân lực để đầu tư cho các hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, hạ tầng dùng chung hay các chương trình nghiên cứu liên ngành quy mô lớn. Đầu tư công cho giáo dục đại học bị dàn trải, lãng phí và kém hiệu quả.

Đứng trước thực trạng đó, trong Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28-7-2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã đặt ra quyết tâm chính trị hết sức quyết liệt và dứt khoát: Tinh giản tối thiểu 20% đầu mối đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời hình thành các đại học đa ngành, đa lĩnh vực có quy mô lớn và năng lực nghiên cứu quốc tế xuất sắc. Yêu cầu này không đơn thuần là một phép tính cơ học về mặt số lượng hay sắp xếp hành chính thuần túy, mà là một cuộc "Đổi mới lần 2" về thể chế học thuật.

Chúng ta không thể kiến tạo nên những "quả đấm thép" về khoa học - công nghệ nếu tiếp tục duy trì tư duy quản lý manh mún, níu giữ các cơ sở đào tạo nhỏ bé, biệt lập. Sự tích tụ về quy mô đại học đa ngành là điều kiện tiên quyết để tạo ra bước chuyển về chất, giúp tụ hội nguồn lực, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh đủ sức giải quyết các bài toán chiến lược của quốc gia như: Chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu…

Khoảng trống thể chế học thuật và áp lực chuẩn mực sinh tồn

Cuộc tái cấu trúc giáo dục đại học lần này diễn ra trong bối cảnh hành lang pháp lý vĩ mô có những biến chuyển mang tính bước ngoặt. Theo Luật Giáo dục đại học 2025, một thay đổi thể chế quan trọng đã diễn ra khi thiết chế Hội đồng trường tại các cơ sở giáo dục đại học công lập chính thức chấm dứt hoạt động.

Trong suốt giai đoạn thử nghiệm trước đó, mô hình Hội đồng trường đã bộc lộ không ít bất cập, từ tình trạng hình thức hóa, chồng chéo quyền lực với cấp ủy và Ban Giám đốc, đến việc thiếu thực quyền trong hoạch định chiến lược. Tuy nhiên, việc bãi bỏ hoàn toàn thiết chế này lại đang đặt hệ thống đại học công lập trước một khoảng trống thể chế lớn về cơ chế kiểm soát, đối ứng quyền lực và giám sát chiến lược.

 Một góc Đại học Bách Khoa Hà Nội. Ảnh qdnd.vn

Khi quyền hành pháp quay trở lại tập trung mạnh mẽ vào Hiệu trưởng hoặc Giám đốc đại học (mô hình thủ trưởng hành chính), tốc độ ra quyết định và thực thi các chiến lược cải tổ sẽ được đẩy nhanh rõ rệt. Song, nguy cơ lạm quyền, chuyên quyền cá nhân hoặc sự quay trở lại của lối quản lý hành chính bao cấp, bị cơ quan chủ quản can thiệp sâu vào công việc chuyên môn cũng gia tăng tương ứng nếu không kịp thời thiết lập một cơ chế kiểm soát quyền lực kỹ trị, minh bạch và hiệu quả.

Khoảng trống quản trị này đòi hỏi bộ máy hậu sáp nhập phải ngay lập tức kiến tạo một mô hình vận hành mới, thiết lập ngay một thế “kiềng ba chân” với những chốt chặn thực quyền nhằm bảo đảm nguyên tắc kiểm soát và đối ứng quyền lực.

Chốt chặn đầu tiên là Hội đồng học thuật nâng tầm từ Hội đồng Khoa học và Đào tạo hiện nay. Đây sẽ là cơ quan quyền lực chuyên môn tối cao, hoạt động độc lập và nắm giữ quyền phủ quyết đối với các quyết định hành chính của giám đốc liên quan trực tiếp đến học thuật như mở hoặc đóng ngành đào tạo, chuẩn đầu ra, quy định công bố quốc tế và quy trình công nhận học vị, chức danh học thuật. Hội đồng học thuật đóng vai trò là "bức tường lửa" bảo vệ sự tự do tư tưởng và liêm chính học thuật của các viện, trường thành viên, ngăn chặn mọi sự can thiệp hành chính cứng nhắc từ cấp trên.

Chốt chặn thứ hai nằm ở phương thức điều hành thông qua “Hợp đồng hiệu suất”. Vị trí Hiệu trưởng hay Giám đốc đại học được chuyển đổi thực chất thành một CEO đại học, được tuyển chọn và bổ nhiệm dựa trên bản cam kết các chỉ số chiến lược định lượng khắt khe ký trực tiếp với Nhà nước, đồng thời công khai trước xã hội. Đi kèm với cơ chế này là điều khoản đào thải nghiêm ngặt: Nếu sau 3 năm liên tiếp không hoàn thành tối thiểu 80% các mục tiêu KPIs đã cam kết, cơ chế Sandbox đặc thù sẽ bị thu hồi, đồng thời bãi nhiệm Ban Giám đốc trước thời hạn.

Chốt chặn thứ ba chính là hệ thống kiểm toán và giám sát số độc lập theo thời gian thực thông qua các chỉ số liên thông dữ liệu quốc gia, thay thế hoàn toàn phương thức quản lý qua báo cáo giấy, bằng giám sát số tự động, minh bạch và liêm chính.

Cùng với thách thức nội tại về thể chế, về lời giải cho các bài toán lớn nhỏ mà đất nước, từng ngành, từng địa phương đang phải đối mặt, áp lực từ cuộc chơi toàn cầu cũng đang đặt các đại học công lập trước ngưỡng cửa sinh tồn. Việc cơ sở dữ liệu Hệ thống Trích dẫn ASEAN (ACI) chính thức đóng cửa từ ngày 1-1-2025 đã chấm dứt giai đoạn tồn tại của những thước đo chất lượng mang tính phong trào hoặc nội bộ vùng. Các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam bị đẩy trực diện vào cuộc cạnh tranh thực chất trên trường quốc tế, lấy các bảng xếp hạng uy tín như QS, THE và các công bố khoa học đỉnh cao trên các tạp chí thuộc danh mục Scopus/WoS làm thước đo năng lực.

Thực tiễn đó buộc các đại học không thể tiếp tục lẩn tránh sau những báo cáo thành tích định tính hay tư duy tuyển sinh thương mại hóa đại trà để thu học phí. Nếu không quyết liệt tái cấu trúc, không giải phóng được sức sản xuất trí tuệ để nâng cao chất lượng nghiên cứu và đào tạo thực chất, hệ thống giáo dục đại học công lập sẽ đối mặt với làn sóng chảy máu chất xám nghiêm trọng, mất dần vị thế cạnh tranh ngay trên sân nhà vào tay khối đại học tư thục và quốc tế linh hoạt hơn, thực chất hơn, thực tế hơn. Sáp nhập, tinh gọn và tái cấu trúc thể chế vì vậy không còn là chủ trương nằm trên giấy, mà đã trở thành mệnh lệnh lịch sử, thành con đường một chiều để giáo dục đại học Việt Nam khẳng định giá trị và phụng sự sự phát triển bền vững của dân tộc.

(Còn tiếp)