Trái sầu riêng những ngày qua được nhiều nhà vườn ở Nam Bộ bày bán trên vỉa hè với giá rẻ, thậm chí thấp hơn giá thành sản xuất. Nhiều nơi, sầu riêng chín rụng đầy vườn vì không có thương lái thu mua. Nguyên nhân là vì sầu riêng không đáp ứng yêu cầu về mã số vùng trồng, kích cỡ và quy chuẩn chất lượng đầu ra.
Hai năm gần đây, sầu riêng từng giúp nhiều nhà vườn “trúng đậm” nhờ giá cao, xuất khẩu mạnh. Từ đó, nhiều người đổ xô chặt bỏ cây ăn trái khác để trồng sầu riêng. Không ít địa phương ở Nam Bộ dần bị “sầu riêng hóa” theo phong trào. Thực trạng trên đã từng được cảnh báo về phát triển nóng, thiếu quy hoạch nhưng nhiều nông dân bị kéo vào vì giá cao, để rồi hôm nay, người trồng sầu riêng lại loay hoay vì đầu ra, bán lỗ.
 |
| Ảnh minh họa: tienphong.vn |
Câu chuyện không chỉ là nỗi lo của nhà vườn trồng sầu riêng, đó còn là vòng luẩn quẩn “trồng-chặt” lặp đi lặp lại với nhiều loại nông sản khác như thanh long, chuối, xoài, ổi, dưa hấu... Cốt lõi của vấn đề là tư duy sản xuất theo phong trào, chạy theo thị trường ngắn hạn thay vì bám vào quy hoạch, thị trường dài hạn và tiêu chuẩn xuất khẩu. Trong khi đó, yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe hơn về chất lượng, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, quy trình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật... Ngay cả người tiêu dùng trong nước cũng ngày càng quan tâm hơn đến chất lượng, thương hiệu sản phẩm. Vì vậy, quy hoạch thôi chưa đủ. Điều cần hơn là xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa nhà vườn, hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua và ngành nông nghiệp; đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ quy trình sản xuất của người dân. Nông nghiệp không thể mãi vận hành theo tâm lý “được giá thì trồng, mất giá thì chặt”. Bởi nếu không gắn với chuỗi giá trị, sản xuất thì khi sụt giảm, người trồng cây sẽ chịu thiệt, đến cuối vụ thu hoạch lại... lo ngày hái quả.
Ngày 26-5, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị “Quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói thúc đẩy xuất khẩu sầu riêng niên vụ 2026”.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, hiện mặt hàng thanh long của Việt Nam đang thuộc diện kiểm soát tăng cường theo Phụ lục II của Quy định (EU) 2019/1793 với tần suất kiểm tra là 30% khi xuất khẩu vào thị trường này; không phải là 50% như một số thông tin báo chí đăng tải gần đây.