Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên toàn chiến trường miền Nam đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc, rút dần quân về nước.
Tuy vậy, với bản chất của kẻ xâm lược, đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, nuôi ý định kéo dài chiến tranh, giữ miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Chúng ráo riết đẩy mạnh bình định, hòng cứu vãn thế thất bại trên chiến trường, đồng thời lấy lại sức mạnh cho ngụy quân Sài Gòn.
Sự “nâng cấp” vội vã
Sau hơn 2 năm tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, với thế mạnh về quân số và vũ khí, Mỹ-ngụy đã thực hiện hàng nghìn cuộc hành quân càn quét. Đến đầu năm 1970, chúng chiếm lại hầu hết các vùng nông thôn rộng lớn, kể cả các vùng ta mới mở trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nâng số đồn bốt từ 4.954 lên 9.224. Ở Khu 8, chúng chiếm 119 xã, 680 ấp, cả khu chỉ còn 4 xã và 312 ấp thuộc vùng giải phóng. Trên chiến trường miền Nam, hơn 10 vạn cán bộ, chiến sĩ, người cơ sở của ta bị thương vong.
 |
| Máy bay Mỹ bị Quân giải phóng bắn rơi trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, năm 1971. Ảnh: TTXVN |
Đây là một trong những thời kỳ khó khăn nhất, tổn thất lớn nhất của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hầu hết quân chủ lực của ta phải tạm thời rút ra miền Bắc củng cố hoặc chuyển sang bên kia biên giới, một số đơn vị phải giải thể. Thế và lực tiến công của ta bị suy giảm đáng kể.
Tháng 3-1970, đế quốc Mỹ hậu thuẫn đảo chính ở Campuchia, lật đổ Chính phủ Sihanouk, lập chính quyền tay sai Lon Nol. Tháng 4-1970, 10 vạn quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn tràn qua biên giới Campuchia, phối hợp với quân Lon Nol, mở cuộc hành binh lớn tập trung đánh vào hai khu vực Móc Câu và Mỏ Vẹt (Đông Bắc Campuchia) hòng tiêu diệt lực lượng ta và chụp bắt cơ quan đầu não cách mạng miền Nam. Trước đó, đế quốc Mỹ đã đẩy mạnh chiến tranh bằng không quân, mở rộng ném bom sang Lào. Từ tháng 8-1969, Mỹ cùng lực lượng đặc biệt Vàng Pao và quân phái hữu Lào mở cuộc hành quân “Cù Kiệt” lấn chiếm Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng, làm bàn đạp tiến công sâu vào vùng giải phóng uy hiếp căn cứ địa cách mạng Lào ở Sầm Nưa.
Đồng thời với việc tiến hành mở rộng chiến tranh, Mỹ ra sức xây dựng "nâng cấp" lực lượng ngụy quân, coi đây là nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Chúng đẩy mạnh đôn quân, bắt lính, đến cuối năm 1970, chủ lực của ngụy quân có hơn 700.000 tên. Bên cạnh đó, có 268.000 tên bảo an dân vệ, 90.000 cảnh sát vũ trang. Mỹ chú trọng xây dựng lực lượng hải quân và không quân, gia tăng số lượng và nhịp độ đào tạo phi công, thủy thủ, nhân viên kỹ thuật, hoa tiêu cho ngụy quân Sài Gòn. Cùng với việc tăng cường lực lượng, đế quốc Mỹ còn tăng viện trợ quân sự, đẩy mạnh trang bị các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Không quân ngụy được trang bị máy bay F5, C119, C130 và 1.500 máy bay lên thẳng.
Tháng 3-1970, ngụy quân thành lập thêm một sư đoàn không quân, cùng nhiều sư đoàn độc lập khác; hải quân được trang bị thêm 1.600 thuyền chiến đấu các loại và tuần dương hạm DE. Để tăng thêm sức mạnh cho ngụy quân, Mỹ chuyển sang Nam Việt Nam 700.000 súng M16, 30.000 khẩu súng phóng lựu, 10.000 súng máy các loại, 200 xe tăng M41, M48, 100 xe bọc thép (nâng số xe tăng, thiết giáp của ngụy quân Sài Gòn lên gần 1.900 chiếc).
 |
| Bộ đội Thông tin liên lạc trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, năm 1971. Ảnh: TTXVN |
Mặt khác, Mỹ còn lập thêm 20 tiểu đoàn pháo, trang bị thêm 600 đại bác từ 105mm đến 175mm, đưa tổng số đại bác của ngụy quân lên 1.300 khẩu và 10.000 khẩu súng cối các loại; 20.000 máy thông tin, 24.000 xe vận tải. Trong khi đó, dù có giảm nhưng năm 1970, số quân Mỹ trên chiến trường miền Nam vẫn còn khoảng hơn 47 vạn.
Cùng với việc tăng cường sức mạnh cho ngụy quân, đế quốc Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân xuống các tỉnh phía Nam Quân khu 4, các căn cứ hậu cần và tuyến chi viện chiến lược 559. Đầu năm 1970, máy bay Mỹ đã ném hơn 600.000 tấn bom xuống các vùng giải phóng miền Nam và Đường Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Mỹ còn rải hàng triệu thùng chất độc dioxin xuống miền Nam Việt Nam.
Việc Mỹ-ngụy gia tăng quân số, tăng cường tiềm lực, mở rộng chiến tranh trên toàn Đông Dương là để thực hiện giai đoạn hai của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, dự tính thực hiện từ tháng 7-1970 đến tháng 5-1971 nhằm bình định toàn bộ các vùng đông dân quan trọng ở miền Nam Việt Nam, buộc lực lượng vũ trang giải phóng phải phân tán nhỏ lẻ, không thể hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên. Hoàn thành mục tiêu xây dựng ngụy quân đủ sức đảm nhiệm tác chiến trên các chiến trường để rút dần quân chiến đấu Mỹ về nước như kế hoạch chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" đã vạch ra.
Những toan tính phiêu lưu
Về phía ta, vượt qua những khó khăn sau Tết Mậu Thân 1968, năm 1970, lực lượng ta trên các chiến trường đã từng bước được khôi phục, sẵn sàng thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị: Đánh cho quân ngụy miền Nam những đòn chí mạng ở Campuchia, đồng thời phá kế hoạch bình định ở chiến trường miền Nam, chuyển sang phản công và tiến công khi có thời cơ.
Nhờ xác định chủ trương và hạ quyết tâm chiến lược chính xác, hành động kiên quyết nên chúng ta đã giành được những thắng lợi quan trọng. Tháng 7-1970, trên chiến trường Campuchia, ta và bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu 54.000 tên địch, giải phóng 5 tỉnh miền Đông và phần lớn nông thôn 10 tỉnh, bao gồm 61/102 quận với 4,5/7 triệu dân của đất nước Chùa Tháp.
Trên chiến trường Lào, ta và bạn đã tiến công giải phóng Attapeu và Salavan, tạo thành hành lang nối liền Nam-Bắc chiến trường Đông Dương, hình thành căn cứ địa cách mạng 3 nước ở vùng ngã ba biên giới. Đúng như Hội nghị cao cấp nhân dân Đông Dương (họp ngày 24 và 25-4-1970) nhận định: “Ba nước trên bán đảo Đông Dương đã trở thành một mặt trận chống Mỹ. Đông Dương trên thực tế đã trở thành một chiến trường thống nhất, hình thành thế chiến lược tiến công chung ngày càng vững mạnh”.
Trên chiến trường miền Nam, trong đợt hoạt động xuân hè 1970, quân và dân ta từ Trị Thiên đến Khu VI, từ Tây Nguyên đến Nam Bộ đã nỗ lực tấn công, khiến cho chương trình bình định những tháng đầu năm 1970 của Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị chững lại. Kế hoạch “bình định đặc biệt” thực hiện trong vòng 4 tháng đã không đạt được, buộc địch phải kéo dài bằng kế hoạch “bình định bổ sung 1970”, dự kiến sẽ kết thúc vào tháng 2-1971.
Việc địch đẩy mạnh đánh phá Nam Khu 4 cũng như tuyến chi viện chiến lược 559, phá các kho tàng ở Đông Bắc Campuchia đã gây cho ta một số khó khăn, nhưng chúng vẫn chưa thể thực hiện được mục tiêu “bóp nghẹt”, ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương miền Bắc, hòng làm cho cách mạng miền Nam phải “lụi tàn”. Hơn nữa, những thất bại đầu năm 1970 khiến Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn càng quyết tâm triệt tiêu sự chi viện từ miền Bắc. Bởi vậy, Mỹ lên kế hoạch trong năm 1971 sẽ quyết chặt đứt hành lang chi viện chiến lược 559.
Ðầu tháng 11-1970, Bộ tư lệnh Thái Bình Dương toan tính và yêu cầu tướng Creighton Williams Abrams là Tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam soạn thảo kế hoạch hành quân tấn công vào khu vực Hạ Lào để cắt đứt Đường Hồ Chí Minh. Với điều kiện Mỹ chỉ yểm trợ bằng không quân, bởi Quốc hội Mỹ đã thông qua Sắc luật 91-652 (Public Law 91-652), trong đó có điều khoản không cho phép quân chiến đấu Mỹ hỗ trợ ngụy quân ngoài biên giới miền Nam Việt Nam.
Ngày 7-11, Đại sứ Ellsworth Bunker và tướng Abrams hội kiến với Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu, trình bày những kế hoạch tấn công qua biên giới, Tổng thống Thiệu đồng ý. Ngày 11-1-1971, Bộ trưởng Quốc phòng và Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đến Sài Gòn kiểm tra tình hình và tiếp tục nhận được sự ủng hộ của người đứng đầu ngụy quyền Sài Gòn. Cùng với đó, Mỹ đã thuyết phục được phái cực hữu Lào tham gia.
Sự toan tính của Mỹ-ngụy được thể hiện thông qua kế hoạch của 3 cuộc hành quân mang mật danh: “Lam Sơn 719”, “Toàn Thắng 1-71” và “Quang Trung 4”. Giới chức Mỹ kỳ vọng, kết quả của các cuộc hành quân này sẽ làm suy yếu sức chiến đấu của quân và dân 3 nước Đông Dương. Đồng thời các cuộc hành quân này cũng nhằm "thử nghiệm" năng lực của quân ngụy, lực lượng chủ công trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" để Mỹ có thể yên tâm thực hiện mục tiêu rút dần quân viễn chinh về nước, nhưng vẫn giữ được thế thượng phong trên chiến trường.
Với tư duy ấy, tư lệnh quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam và Bộ Tổng tham mưu ngụy quân Sài Gòn quyết định tập trung 88 tiểu đoàn (trong tổng số 214 tiểu đoàn bộ binh), 15 thiết đoàn xe tăng, xe thiết giáp, 40 tiểu đoàn pháo binh từ 105mm đến 175mm, 3 sư đoàn không quân và hàng trăm tàu, xuồng chiến đấu các loại, cùng lúc mở 3 cuộc tiến công quy mô lớn trên 3 vùng chiến lược nhằm vào tuyến vận tải chiến lược và hậu phương trực tiếp của ta.
Trong đó, cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71”, địch sử dụng 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh, Lộc Ninh đánh sang hai tỉnh Kampong cham, Kratié (Đông Bắc Campuchia). Cuộc hành quân “Quang Trung 4” huy động lực lượng cấp sư đoàn từ Bắc Kon Tum tấn công ra Bắc Tây Nguyên, vùng ngã ba biên giới bao gồm các khu vực Tà Xẻng, Pa Kha, Sê Sụ (Attapeu, Lào). Cuộc hành quân “Lam Sơn 719” từ Trị Thiên đánh sang khu vực Đường 9-Nam Lào.
(còn nữa)