Tham vọng lớn
Bằng cuộc hành quân "Lam Sơn 719", tham vọng của Mỹ-ngụy là cắt đứt, tiến tới phá hủy tuyến vận tải và cơ sở hậu cần chiến lược ở khu vực Đường 9-Nam Lào, hòng chặn đứng và triệt tiêu nguồn tiếp tế từ gốc, khiến bộ đội chủ lực ở miền Nam không thể đánh lớn trong mùa khô 1971-1972, buộc phải quay về hoạt động nhỏ lẻ, phân tán theo kiểu chiến tranh du kích. Địch hy vọng với cách làm đó sẽ đưa cách mạng miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia từng bước xuống dốc và đến ngày “lụi tàn”.
Mỹ cũng coi đây là bước thử nghiệm, kiểm chứng sức mạnh và khả năng tác chiến của ngụy quân Sài Gòn, “công cụ” chủ yếu để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"; đồng thời "thử thách" quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc Việt Nam. Mỹ cũng muốn qua việc giành chiến thắng có ý nghĩa chiến lược này để làm “yên lòng” nhân dân Mỹ, rằng: Ngụy quân Sài Gòn đủ sức thay thế vai trò của quân Mỹ, trở thành lực lượng nòng cốt có khả năng thay thế quân Mỹ ở Đông Dương, có thể đương đầu với chủ lực miền Bắc Việt Nam, là điều kiện căn bản để Mỹ rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam; chiến thắng này cũng là sự tuyên truyền hiệu quả cho học thuyết Nixon ở Đông Dương. Tổng thống Richard Milhous Nixon cũng hy vọng thắng lợi của cuộc hành quân này sẽ tạo chuyển biến có lợi cho Mỹ, để ông ta có thêm cơ hội cho cuộc tranh cử tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo diễn ra trong năm 1972. Henry Alfred Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ khẳng định: “Mục đích của chiến dịch là gây nhiều thiệt hại cho phía bên kia để có thể rút quân đội Mỹ nhanh hơn trong năm 1971, 1972,... làm cho các lực lượng vũ trang của Việt Nam cộng hòa có thể chống lại quân chủ lực Bắc Việt”.
Với tham vọng như vậy nên vào đầu tháng 2-1971, khi đang ở giai đoạn chuẩn bị, đã xuất hiện những phản ứng về kế hoạch của cuộc hành quân và những lo lắng về sự thành công của "Lam Sơn 719", nhưng Tổng thống Nixon vẫn quyết định: “Kế hoạch đã được cân nhắc và chúng ta xốc tới”.
 |
| Thu giữ máy bay và xe bọc thép của Mỹ tại cửa ngõ Bản Đông, năm 1971. Ảnh tư liệu |
Đế quốc Mỹ đã tính toán rất kỹ về mặt chiến lược khi mở cuộc tiến công vào Đường 9-Nam Lào. Bởi địa hình nơi đây thuận lợi trong việc phát huy sức mạnh binh khí, kỹ thuật hiện đại và hiệp đồng tác chiến giữa ngụy quân Sài Gòn với quân Mỹ. Là nơi có sẵn hệ thống căn cứ hỏa lực, căn cứ hậu cần, các sân bay dã chiến để máy bay vận tải hạng nặng như C-130 hoạt động; có mạng lưới giao thông thủy-bộ khá thuận tiện cho việc cơ động lực lượng và phương tiện chiến tranh. Ngoài ra, trong ý đồ của Mỹ, sau khi cuộc hành quân kết thúc, việc chốt giữ hành lang Đường 9-Nam Lào sẽ tạo điều kiện chia cắt chiến trường Đông Dương, từ đây ngụy quân có thể xây dựng bàn đạp xuất phát tiến công sang Lào, ra Nam Quân khu 4 và Tây Trị-Thiên, hoặc sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc đối phó với sự tiến công, phản công của ta.
Để đạt mục tiêu mang nhiều tham vọng trên, Bộ chỉ huy quân chiến đấu Mỹ tại miền Nam Việt Nam và ngụy quân Sài Gòn đã huy động 42.000 quân, trong đó 33.000 ngụy quân Sài Gòn, 9.000 quân Mỹ cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Toàn bộ lực lượng trên được tổ chức thành 11 trung đoàn bộ binh, trong đó có 10 trung đoàn ngụy quân, 1 trung đoàn bộ binh Mỹ, 2 thiết đoàn thiết giáp với 464 xe tăng, xe bọc thép, 16 tiểu đoàn pháo. Hỗ trợ cho bộ binh là 1.000 máy bay các loại, gồm 600 máy bay lên thẳng (có 150 máy bay lên thẳng vũ trang), 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải hạng nặng C-130, C-123 và 50 máy bay chiến lược B-52... Hầu hết lực lượng tham gia tiến công đều là những đơn vị thiện chiến, thuộc lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu I (Vùng I chiến thuật) của ngụy quân Sài Gòn. Lực lượng tiếp vận trung ương, không quân và pháo binh Mỹ đảm nhiệm tiếp tế hậu cần, chi viện hỏa lực cho các đơn vị tác chiến.
Hỗ trợ cho hướng tiến công chính còn có các đơn vị quân Mỹ gồm: 2 tiểu đoàn pháo binh 155mm và 175mm chi viện trực tiếp cho quân ngụy vượt biên giới chiến đấu; 3 tiểu đoàn pháo binh 175mm và 203mm; 1 trung đoàn thiết giáp (gồm 4 tiểu đoàn) đứng ở khu vực Khe Sanh sẵn sàng phối hợp ở phía sau. Bên kia biên giới, ở phía Tây Đường 9, địch có 9 tiểu đoàn thuộc binh đoàn (GM30, GM33) của quân phái hữu Lào từ Sê Nô, Đồng Hến cùng tiến đánh ra khu vực Sê Săng Soi, Sê Ta Mộc và dự kiến sẽ hội quân với các đơn vị ngụy quân Sài Gòn ở Pha Lan, Mường Phìn. Đây là cuộc hành quân lớn nhất và cũng mang tham vọng lớn nhất của Mỹ-ngụy, điển hình theo công thức Việt Nam hóa và Đông Dương hóa chiến tranh của Tổng thống Nixon.
Vỡ mộng chiến lược
Kế hoạch tác chiến của địch là nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ đoạn đường Bản Đông-Sê Pôn đánh phá kho tàng, đường sá xung quanh Sê Pôn, phía Bắc lên tới Kho Vinh, Na Thôn, phía Tây Nam đến Mường Phìn nhằm phối hợp với lực lượng ngụy Lào từ phía Tây tiến sang. Tiếp đó cơ động lực lượng xuống đánh phá kho tàng khu vực từ Sa Đi, Mường Noòng, A Túc đến A Sầu, A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên. Thời gian cuộc hành quân dự kiến kéo dài trong 90 ngày, kết thúc vào tháng 5-1971 (trước khi vào mùa mưa ở Nam Lào) với 4 giai đoạn.
Nhằm đánh lạc hướng, phân tán sự chuẩn bị và kế hoạch đối phó của ta, ngay từ tháng 11-1970, địch đã tiến hành một loạt kế hoạch nghi binh lớn, tung tin chuẩn bị tiến công ra miền Bắc (Nam Quân khu 4). Để phục vụ cho cuộc hành quân, từ ngày 30-1-1971, đang trong dịp Tết Tân Hợi, quân Mỹ dọc bờ Nam sông Bến Hải lặng lẽ triển khai chiếm lĩnh các vị trí then chốt, tạo bàn đạp cho 3 cánh của ngụy quân Sài Gòn (gồm quân dù, thiết giáp và bộ binh) vượt biên giới sang Lào. Địch hy vọng với kế hoạch tác chiến như trên sẽ nhanh chóng đạt mục tiêu, nhanh chóng phá được kho tàng, chặn được tiếp tế và tránh những trận đối đầu lớn với chủ lực của ta. Bởi chúng cho rằng đối tượng tác chiến chủ yếu sẽ là bộ đội bảo vệ hành lang và kho tàng, còn chủ lực của ta đang bị phân tán không thể cơ động đến kịp.
Tuy vậy, thực tế chiến trường đã cho thấy đó là những tính toán mang đầy yếu tố phiêu lưu quân sự và chủ quan của Mỹ-ngụy. Bởi từ giữa năm 1970, sau khi bẻ gãy trận càn của địch vào Campuchia, ta đã sớm nhận định địch sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới. Ta còn dự đoán chính xác là phương hướng tiến công của địch trong mùa khô 1970-1971 sẽ là hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung-Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia... Các chiến trường, nhất là khu vực Đường 9-Nam Lào đã được lệnh khẩn trương chuẩn bị đánh địch. Từ mùa hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu đã vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo việc chuẩn bị chiến trường khu vực Đường 9-Nam Lào. Tháng 10-1970, Binh đoàn 70-binh đoàn chiến lược đầu tiên của Quân đội ta được thành lập (gồm các Sư đoàn 304, 308, 320), sẵn sàng đánh địch trên Mặt trận Đường 9-Nam Lào. Các đơn vị thuộc Mặt trận B5 (Đường 9-Bắc Quảng Trị), B4 (Quân khu Trị Thiên) và Đoàn 559 gấp rút điều chỉnh lực lượng, chuẩn bị chiến trường sẵn sàng phối hợp đánh địch. Dự trữ hậu cần lên đến 6.000 tấn, đủ cho 5 đến 6 vạn quân tác chiến từ 4 đến 5 tháng, công tác quân y, hậu cần dự bị đã được trù liệu.
Nhờ nhận định chính xác âm mưu, thủ đoạn mới của Mỹ-ngụy, ta đã chủ động chuẩn bị kỹ càng, sẵn sàng đánh bại mọi hành động phiêu lưu của chúng. Trải qua 50 ngày đêm chiến đấu (từ ngày 8-2 đến 23-3-1971), quân dân Mặt trận Đường 9-Nam Lào đã thực hành chiến dịch phản công, giáng cho ngụy quân Sài Gòn (lực lượng “xương sống” làm nòng cốt thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" mà Mỹ dày công xây dựng) những đòn chí mạng. Hơn 21 nghìn tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối bị phá hủy. Ta thu được số lượng khá lớn vũ khí, quân trang, quân dụng. Đặc biệt, ta đã bảo vệ vững chắc tuyến chi viện chiến lược 559. Âm mưu cắt đứt tuyến đường Trường Sơn, chia cắt chiến trường Đông Dương của địch đã thất bại hoàn toàn.
Thắng lợi của chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào đã “đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của ngụy quân trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đánh dấu bước thất bại nghiêm trọng của chiến lược này”. Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Alfred Kissinger phải thừa nhận: “Các sư đoàn Nam Việt Nam rõ ràng chưa đủ tốt để tiến hành một cuộc hành quân phức tạp như cuộc hành quân vào Lào”. Còn Nixon cho rằng kết cục đó “đã làm giảm lòng tin vào thắng lợi của Việt Nam hóa và vào triển vọng chấm dứt chiến tranh”.
Cùng với chiến thắng Đường 9-Nam Lào, quân dân ta đã đập tan cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" trên chiến trường Đông Bắc Campuchia, đánh bại cuộc hành quân "Quang Trung 4" của địch trên địa bàn Tây Nguyên, làm cho những toan tính của địch trong năm 1971 bị phá sản. Thất bại từ các cuộc hành quân đã làm Mỹ-ngụy vỡ mộng hoàn toàn về sự khởi đầu của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đồng thời mở ra những triển vọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta giành những thắng lợi mới...