Nhưng độc lập được tuyên bố mới chỉ là điểm khởi đầu. Một quốc gia muốn giữ vững quyền độc lập, tự do phải có sức mạnh bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và cuộc sống bình yên của nhân dân. Bởi vậy, từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đến lời thề bảo vệ Tổ quốc hôm nay là một mạch nguồn thống nhất: Tuyên bố quyền sống của dân tộc và quyết tâm bảo vệ quyền sống ấy bằng ý chí, trí tuệ, sức mạnh của toàn dân tộc.
Từ lời tuyên bố độc lập đến chân lý về quyền dân tộc
Điểm đặc biệt trong Tuyên ngôn Độc lập là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định quyền độc lập của Việt Nam bằng truyền thống yêu nước và ý chí tự quyết, mà còn đặt vấn đề độc lập dân tộc trong tầm vóc của những giá trị phổ quát của nhân loại. Từ các bản tuyên ngôn nổi tiếng của Hoa Kỳ (1776) và Pháp (1791), Người dẫn ra những chân lý về quyền con người, rồi phát triển thành chân lý về quyền dân tộc. Nếu mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, thì các dân tộc cũng có quyền bình đẳng; mọi dân tộc đều có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đó là lập luận vừa có tính pháp lý, vừa có tính chính trị, vừa có chiều sâu nhân văn. Việt Nam giành độc lập không nhằm chống lại một dân tộc khác, mà nhằm khẳng định quyền tự quyết chính đáng của chính mình. Độc lập dân tộc vì thế không phải đặc quyền của bất cứ quốc gia nào; đó là quyền thiêng liêng của mọi dân tộc.
 |
| Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nguồn ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP Hồ Chí Minh |
Sau hơn 80 năm, giá trị của tư tưởng ấy vẫn nguyên vẹn. Độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những lợi ích cốt lõi, bất biến của quốc gia - dân tộc. Trong mọi hoàn cảnh, dù môi trường chiến lược thay đổi sâu sắc đến đâu, Việt Nam vẫn phải giữ vững quyền tự quyết đối với con đường phát triển của mình. Độc lập không tự nhiên mà có, càng không tự nhiên mà còn.
Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện khai sinh một nhà nước mới, nhưng phía sau lời tuyên bố ấy là cả một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ và hy sinh của dân tộc Việt Nam. Ngay sau ngày độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối diện với muôn vàn khó khăn: Thù trong, giặc ngoài, nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói, nạn dốt và nguy cơ chiến tranh trở lại. Độc lập đứng trước thử thách sinh tử. Chính trong hoàn cảnh đó, một chân lý khác của cách mạng Việt Nam được khẳng định: Độc lập phải gắn với khả năng tự bảo vệ.
 |
| Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu |
Lịch sử các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho thấy rõ điều ấy. Từ một đội quân còn non trẻ, lực lượng vũ trang nhân dân từng bước trưởng thành; từ thế trận toàn dân đánh giặc, chiến tranh nhân dân được phát triển thành sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và nhân dân trở thành những lực lượng nòng cốt bảo vệ thành quả cách mạng. Những Chiến thắng Điện Biên Phủ - 1954, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân - 1975 cùng quá trình bảo vệ biên giới, biển, đảo của Tổ quốc là những minh chứng sinh động rằng độc lập được bảo vệ bằng sự kết hợp giữa ý chí chính trị, sức mạnh nhân dân, tiềm lực quốc gia và nghệ thuật tổ chức, chỉ huy, tiến hành chiến tranh. Bởi thế, khi nói đến Tuyên ngôn Độc lập, không thể chỉ dừng lại ở niềm tự hào về một bản tuyên bố lịch sử. Cần nhìn sâu hơn: Đó còn là lời mở đầu cho hành trình xây dựng và bảo vệ một quốc gia độc lập.
“Lời thề bảo vệ Tổ quốc” - sự tiếp nối của lời tuyên bố năm 1945
Nếu Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố trước thế giới về quyền sống của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Lời thề bảo vệ Tổ quốc là sự khẳng định bằng hành động rằng dân tộc Việt Nam quyết không để quyền sống, quyền tự do và chủ quyền thiêng liêng ấy bị xâm phạm. Lời thề ấy trước hết thuộc về mỗi công dân. Bảo vệ Tổ quốc không chỉ là nhiệm vụ của Quân đội. Đó là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của mỗi người Việt Nam. Trong thời bình, lời thề ấy thể hiện ở ý thức thượng tôn pháp luật, trách nhiệm với cộng đồng, bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng đất nước giàu mạnh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đối với lực lượng vũ trang, lời thề ấy mang ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Đó là lời cam kết tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ; đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; không quản ngại hy sinh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Từ lời thề dưới Quân kỳ đến từng nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển, từng thao trường, trận địa và vị trí công tác, lời thề ấy phải được chuyển hóa thành bản lĩnh, kỷ luật, trình độ và hành động cụ thể.
Bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới: Không chỉ bằng sức mạnh quân sự
Ngày nay, nguy cơ chiến tranh quy mô lớn không phải là vấn đề duy nhất đặt ra đối với an ninh quốc gia. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tranh chấp chủ quyền, an ninh mạng, an ninh phi truyền thống, chiến tranh thông tin, chiến tranh công nghệ cao, các thách thức về kinh tế, năng lượng, lương thực, nguồn nước và biến đổi khí hậu đang tạo nên môi trường an ninh phức tạp hơn. Trong bối cảnh đó, bảo vệ Tổ quốc phải được tiến hành bằng sức mạnh tổng hợp quốc gia, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, đối ngoại và khoa học - công nghệ.
Một đất nước có nền kinh tế độc lập, tự chủ, khoa học - công nghệ phát triển, thể chế hiệu lực, xã hội ổn định, văn hóa giàu bản sắc và đối ngoại rộng mở sẽ có nền tảng vững chắc hơn để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Vì thế, xây dựng đất nước giàu mạnh cũng chính là một phương thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đặc biệt, trong thời đại chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, sức mạnh quốc phòng không thể chỉ đo bằng số lượng vũ khí, trang bị. Yếu tố con người, trình độ khoa học - công nghệ, năng lực tác chiến không gian mạng, khả năng làm chủ công nghệ và năng lực dự báo chiến lược ngày càng có ý nghĩa quyết định. Lời thề bảo vệ Tổ quốc vì thế phải được nâng lên thành lời thề về trách nhiệm xây dựng tiềm lực quốc gia.
 |
| Một đất nước có nền kinh tế độc lập, tự chủ, khoa học - công nghệ phát triển, thể chế hiệu lực, xã hội ổn định, văn hóa giàu bản sắc và đối ngoại rộng mở sẽ có nền tảng vững chắc hơn để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Ảnh: qdnd.vn |
Giữ nước từ sớm, từ xa - bảo vệ Tổ quốc khi chưa có chiến tranh
Một bài học lớn của lịch sử Việt Nam là phải chủ động chuẩn bị từ trước, không để Tổ quốc rơi vào thế bị động, bất ngờ. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trước hết là chủ động nhận diện nguy cơ, dự báo đúng tình hình, xử lý hiệu quả các mối quan hệ đối ngoại, tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Đồng thời, phải xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân vững chắc. Trong đó, lòng dân là nền tảng sâu xa nhất của sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.
Một đất nước có nhân dân đồng thuận, tin tưởng, đoàn kết và có trách nhiệm với vận mệnh quốc gia sẽ tạo ra sức mạnh mà không một phép tính quân sự thuần túy nào có thể thay thế. Từ Quảng trường Ba Đình năm 1945 đến những vùng biên cương, hải đảo hôm nay, sức mạnh ấy vẫn là một dòng chảy liên tục. Từ ký ức lịch sử đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay, mỗi thế hệ có một hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng đều có một trách nhiệm không thay đổi: Giữ cho Tổ quốc Việt Nam độc lập, thống nhất, chủ quyền và phát triển. Thế hệ cha ông đã dùng máu xương để giành độc lập. Thế hệ hôm nay phải dùng trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng và năng lực sáng tạo để làm cho đất nước mạnh lên, đồng thời đủ sức bảo vệ những thành quả mà các thế hệ trước đã hy sinh để giành được.
 |
|
Một đất nước có nhân dân đồng thuận, tin tưởng, đoàn kết và có trách nhiệm với vận mệnh quốc gia sẽ tạo ra sức mạnh mà không một phép tính quân sự thuần túy nào có thể thay thế. Ảnh: TRUNG THÀNH
|
Bởi vậy, giáo dục lịch sử không chỉ nhằm ghi nhớ những sự kiện đã qua. Điều quan trọng hơn là làm cho mỗi người hiểu rằng độc lập hôm nay được đánh đổi bằng biết bao hy sinh; từ đó hình thành ý thức trách nhiệm đối với hiện tại và tương lai. Đọc lại Tuyên ngôn Độc lập cũng là đọc lại lời nhắc nhở về trách nhiệm công dân. Hiểu giá trị của độc lập để càng trân trọng hòa bình. Trân trọng hòa bình để càng có ý thức xây dựng đất nước. Xây dựng đất nước để có đủ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Và bảo vệ Tổ quốc để những giá trị thiêng liêng được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố năm 1945 tiếp tục được trao truyền cho các thế hệ mai sau.
Một lời tuyên bố, một lời thề, một mạch nguồn dân tộc
Tám mươi mốt năm đã trôi qua kể từ mùa Thu lịch sử năm 1945. Thời gian càng lùi xa, tầm vóc của Tuyên ngôn Độc lập càng được khẳng định. Từ lời tuyên bố “nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập” đến lời thề bảo vệ Tổ quốc hôm nay là một hành trình lịch sử xuyên suốt. Đó là hành trình từ giành độc lập đến giữ vững độc lập; từ bảo vệ Tổ quốc bằng chiến tranh cách mạng đến bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp trong thời bình; từ quyết tâm không chịu mất nước đến khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Nếu năm 1945, cả dân tộc đứng lên để giành lấy quyền sống của mình, thì hôm nay, cả dân tộc phải chung sức làm cho quyền sống ấy ngày càng có nội hàm đầy đủ hơn: Một quốc gia độc lập, có chủ quyền, giàu mạnh, tự chủ, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế. Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố với thế giới. Lời thề bảo vệ Tổ quốc là lời cam kết với lịch sử, với nhân dân và với tương lai. Hai lời nói cách nhau hơn tám thập niên nhưng cùng hội tụ ở một chân lý: Độc lập là thiêng liêng; Tổ quốc là trên hết; và bảo vệ Tổ quốc không chỉ là nhiệm vụ của một thế hệ, mà là trách nhiệm muôn đời của dân tộc Việt Nam.