Sau cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) đã diễn ra cuộc mít tinh trọng thể với sự tham gia của hàng vạn người dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. “Tuyên ngôn Độc lập” không chỉ có giá trị to lớn về mặt pháp lý mà còn là một áng văn chính luận đặc sắc, biểu thị ý thức độc lập, tinh thần dân tộc và khát vọng tự do, hòa bình của nhân dân Việt Nam. 

 Chương trình nghệ thuật ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại tại Lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới" lần thứ 4 do Báo Quân đội nhân dân phối hợp với các đơn vị tổ chức. Ảnh: TUẤN HUY

Với trí tuệ uyên bác, phương pháp trình bày, lập luận khúc chiết, mạch lạc và chặt chẽ, “Tuyên ngôn Độc lập” là sự kết tinh phong cách văn chương chính luận rất tài tình của Bác Hồ. Mở đầu bản Tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai điều cốt yếu nhất trong bản "Tuyên ngôn Độc lập" năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của nước Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Cách vào đề tinh tế này đã tạo ra hiệu quả kép ngay từ đầu: Đó là vừa khẳng định những giá trị nhân văn cơ bản của hai bản tuyên ngôn mà nước Mỹ và nước Pháp đã có công xây dựng, cống hiến cho nhân loại và Việt Nam muốn nối tiếp những giá trị sâu sắc ấy; vừa là điều ẩn ý nhắn nhủ rằng, đế quốc Mỹ và thực dân Pháp "nói không đi đôi với làm” và chính họ tự bôi nhọ, chà đạp lên những giá trị nhân văn ấy khi đem quân sang xâm lược nước khác.

Trên thực tế, ra tuyên ngôn với những lời lẽ rất nuột nà như vậy, nhưng “thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái” để tiến hành xâm lược nước ta, gây ra bao đau thương tang tóc và để lại bao hậu quả khủng khiếp cho dân tộc và nhân dân Việt Nam. Để chứng minh cho hành động này, Bác đã lấy các dẫn chứng với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, thâm độc của kẻ thù. Về chính trị, “Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”. Về kinh tế, “Chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều... Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng”.

Những bằng chứng rất chân thực, xác đáng này là bản kết tội đanh thép thực dân Pháp đối với nhân dân ta và là minh chứng cho sự tàn ác, thâm hiểm của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa. Khi phát xít Nhật đến xâm chiếm Đông Dương, thực dân Pháp đã “quỳ gối đầu hàng” và dã tâm “rước Nhật” vào tiếp tục cướp phá, bóc lột, áp bức nhân dân ta. Một cổ hai tròng, dân tộc ta bị xiềng xích, kìm kẹp cả thực dân và phát xít nên gây ra một bi kịch và thảm họa trong lịch sử dân tộc khiến hơn hai triệu người Việt Nam bị chết đói.

Phát huy truyền thống yêu nước từ mấy ngàn năm của ông cha để lại, tận dụng thời cơ Liên Xô tiêu diệt và chiến thắng bọn phát xít Đức, nhân dân ta đã đồng tâm, đoàn kết một lòng, tạo nên sức mạnh tổng lực, buộc “Pháp chạy, Nhật hàng, Vua Bảo Đại thoái vị”. Không sử dụng những từ ngữ dài dòng, chỉ bằng một câu khẳng định “Pháp chạy, Nhật hàng, Vua Bảo Đại thoái vị”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đánh giá rất đúng, rất sát thực tế lịch sử mà còn thể hiện tầm bao quát vừa chiến lược, vừa cụ thể trong tư duy lập luận sắc sảo và đặc biệt, Bác đã biết dùng từ ngữ hết sức cô đọng, đắc địa và tinh tế. Mặc dù kẻ thù đã gây ra bao tội ác “đất không dung, trời không tha” cho nhân dân Việt Nam, nhưng với truyền thống bao dung “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn/ Lấy chí nhân thay cường bạo”, Bác Hồ chỉ rõ: “Đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ”.

Sau khi luận chứng về những tội ác của thực dân Pháp, viện dẫn những lý do nhân dân ta đã đánh đổ thực dân và phát xít, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh cho nhân dân thế giới biết rằng: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Điệp ngữ “một dân tộc gan góc...”, “dân tộc đó phải được...” được nhắc đi nhắc lại hai lần với chủ ý nhấn mạnh làm tăng thêm sức biểu cảm, giá trị của câu văn và hơn thế, đó là sự khẳng định tất yếu không có gì lay chuyển, khuất phục.

  Xe rước Quốc huy tại Lễ mít tinh kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-2025) tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội). Ảnh: TRỌNG HẢI

Vinh quang nào cũng phải trả giá bằng mồ hôi nước mắt, hạnh phúc nào cũng phải nếm trải bao nỗi đắng cay. Thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước chân chính Việt Nam đã được bồi đắp, hình thành, xây dựng, kết tinh từ mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trải qua ngót một thế kỷ dưới ách áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phát xít và phong kiến, nhân dân ta từ một thân phận nô lệ đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, lập nên chính quyền công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Cuối bản “Tuyên ngôn Độc lập” là lời trịnh trọng tuyên bố với thế giới và lời hiệu triệu hùng hồn với nhân dân ta: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Giá trị tự do, độc lập trong câu kết này cũng được Bác Hồ nhấn mạnh tới 3 lần với 3 hàm ý: Dân tộc ta xứng đáng được quyền sở hữu giá trị tự do, độc lập; thực tế chứng minh giá trị tự do, độc lập của dân tộc ta là bất khả xâm phạm; và giá trị tự do, độc lập ấy luôn tồn tại bền vững khi có sự đồng tâm hiệp lực giữ gìn, bảo vệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. 

Tiếp nối tinh thần dân tộc và khí phách hiên ngang trong “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt và ý thức tự chủ, tự cường trong “Đại cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi, “Tuyên ngôn Độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bản thiên hùng văn thể hiện truyền thống yêu nước vẻ vang, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất và đạo lý nhân nghĩa cao cả của dân tộc và nhân dân ta. Không những vậy, “Tuyên ngôn Độc lập” còn là một tài sản lịch sử vô giá, một áng văn mẫu mực về văn phong, ngôn ngữ chính luận. Những tư tưởng trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” như những lời hịch thiêng liêng còn mãi ngân vang với non sông gấm vóc. Mỗi lần đọc lại “Tuyên ngôn Độc lập”, chúng ta như nghe thấy những âm hưởng hào hùng của “Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau” (Tố Hữu) và càng tự hào, tự tôn về lịch sử vinh quang của dân tộc, nguyện tiếp bước cha anh, quyết tâm giữ gìn những thành quả cách mạng và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam thân yêu.