Đổi mới tư duy, khơi thông điểm nghẽn

Như đã đề cập ở những bài viết trước, sự phát triển của Tây Bắc hôm nay là minh chứng sinh động, thành quả to lớn từ những chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng cùng sự nỗ lực vươn lên không ngừng của Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Mặc dù vậy, Tây Bắc vẫn còn khoảng cách khá xa về mọi mặt so với các vùng, miền trong cả nước. Trong khi đó, ngay nội tại từng địa phương, sự chênh lệch về thu nhập, mức sống, trình độ dân trí giữa các vùng, các dân tộc chưa thể xóa nhòa thì việc bắt nhịp cùng các địa phương khác trong cả nước là bài toán hóc búa đặt ra cho toàn hệ thống chính trị ở Tây Bắc.

Kết quả khảo sát tại các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên cho thấy, các địa phương này còn nhiều tiềm năng và dư địa phát triển. Một số nơi đã có định hướng phát triển, có đề án, chương trình hành động, nhưng còn gặp vướng trong khâu triển khai, gặp khó trong nguồn lực thực hiện nên chưa thể bứt ra khỏi vòng luẩn quẩn. Vấn đề đặt ra với các tỉnh trong vùng là làm sao để khai thác hiệu quả những nguồn tài nguyên hữu hình (thủy điện, khoáng sản, rừng...) và nguồn tài nguyên chất xám (nhân lực chất lượng cao). Xét đến cùng, nguồn tài nguyên có dồi dào bao nhiêu nhưng không phải là vô tận và sẽ sớm cạn kiệt nếu khai thác tận thu, không biết bảo tồn. Ngược lại, địa phương dù khó khăn đến mấy, nếu có được nguồn nhân lực chất lượng cao, có đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị dám nghĩ, dám làm, dám đột phá; kết hợp với cơ chế, chính sách và nguồn lực từ Trung ương thì sẽ sớm hóa giải được những trở lực, giúp địa phương bứt phá.

leftcenterrightdel
Đồng bào các dân tộc tỉnh Điện Biên vui chơi trong Lễ hội hoa ban (ảnh chụp trước thời điểm dịch Covid-19). Ảnh: VŨ LỢI 

Những ngày thâm nhập ở Tây Bắc, chúng tôi mới cảm nhận được phần nào nỗi gian truân, vất vả của vùng đất này. Xét về tổng thể, kết cấu hạ tầng vừa thiếu, vừa không đồng bộ, giảm nghèo chưa bền vững; vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên không thuận lợi... là những hạn chế lớn của Tây Bắc. Do đó, để hiện thực hóa ước vọng ấm no, mạnh giàu cho toàn dân Tây Bắc là một quá trình dài phía trước, cần những giải pháp đồng bộ, nguồn lực tập trung và bước từng bước vững chắc. Trong đó, cần sớm hóa giải được những điểm nghẽn trong quá trình triển khai thực hiện cơ chế, chính sách. Nguồn lực đầu tư từ Trung ương chỉ là một phần, điều quan trọng là cấp ủy, chính quyền các cấp và đồng bào Tây Bắc cần khơi dậy, phát huy được nội lực; mạnh dạn đột phá, đổi mới tư duy để biến những khó khăn, thách thức thành cơ hội phát triển; đưa những tiềm năng, thế mạnh mang lại giá trị kinh tế.

Trên thực tế, tổng nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo vùng Tây Bắc là không nhỏ. Tuy nhiên, do có nhiều chính sách, chương trình dự án, với nhiều nguồn vốn khác nhau, mỗi nguồn vốn lại có cơ chế điều hành riêng nên dẫn đến nguồn lực phân tán và không phát huy được hiệu quả liên kết từ các chương trình, dự án. Bởi vậy, phải tập trung được nguồn lực từ các chương trình, mục tiêu quốc gia hỗ trợ đầu tư, nhất là việc đầu tư cho phát triển từng sản phẩm, từng dự án phải được thực hiện đến cùng để phát huy hiệu quả đầu tư. Các dự án phát triển vùng nguyên liệu trồng trọt, chăn nuôi phải đồng bộ với khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm; gắn quy hoạch, sản xuất kết nối với chuỗi giá trị, tổ chức sản xuất theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng.

Để giải quyết “tròn khâu” bài toán này không thể thiếu sự đồng hành của các doanh nghiệp. Theo nghĩa đó, Chính phủ và các địa phương cần có gói chính sách khuyến khích, ưu đãi để kêu gọi, thu hút các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, chế biến, kinh doanh trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, để vừa bao tiêu sản phẩm và vừa giải quyết việc làm tại chỗ cho bà con dân tộc thiểu số. Ví như với dự án quy hoạch trồng cây mắc-ca trên tổng diện tích hơn 6.800ha tại huyện Mường Tè (Lai Châu), khi các doanh nghiệp đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến ngay tại địa phương thì kỳ vọng Mường Tè trở thành thủ phủ mắc-ca (trồng, chế biến, xuất khẩu) là hoàn toàn khả thi. Nhưng, nếu không giải quyết được bài toán thu hút đầu tư thì dự án dù có quy mô đến đâu cũng sẽ trở thành dự án treo và những thế mạnh mũi nhọn sẽ chỉ ở dạng tiềm năng.

Tây Bắc không chỉ có thế mạnh là kinh tế nông, lâm nghiệp mà lợi thế để phát triển công nghiệp cũng rất lớn, bởi nơi đây có nguồn tài nguyên “vàng trắng” là thủy điện và các loại khoáng sản. Mặc dù đã nhận được nhiều sự quan tâm, đầu tư của các bộ, ngành Trung ương nhưng các tỉnh vùng Tây Bắc vẫn cần nhiều hơn nữa chính sách ưu đãi hỗ trợ để phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nhất là chính sách thu hút nhà đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng cao. Các địa phương phản ánh, khi triển khai dự án rất khó tuyển lao động có trình độ cao như kỹ sư, chuyên gia quản lý để làm việc trong doanh nghiệp. Phần lớn lao động làm việc trong các công trình trọng điểm như: Xây dựng thủy điện, luyện kim, hóa chất... là cán bộ, kỹ thuật, công nhân bậc cao ở các doanh nghiệp thuộc các bộ, ngành Trung ương.

Bởi vậy, các tỉnh vùng Tây Bắc phải có kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao tay nghề cho người lao động. Cùng với đó, các địa phương cần sớm khắc phục triệt để việc đào tạo không gắn với sử dụng, đào tạo không theo địa chỉ, không theo nhu cầu của thị trường lao động. Tại những địa phương chúng tôi có dịp khảo sát, nhiều huyện vùng sâu, vùng xa như Mường Tè (Lai Châu), Mường Nhé (Điện Biên), Vân Hồ (Sơn La)... con em đồng bào các dân tộc sau khi học xong đại học, cao đẳng nhưng không có việc làm ổn định chiếm tỷ lệ không nhỏ. Nhiều em đi làm ăn xa ở các tỉnh miền xuôi, do tác động từ dịch Covid-19 nên phải hồi hương. Nhiều em không có việc làm nên đành loay hoay tìm cách phát triển kinh tế gia đình theo hướng nhỏ, lẻ... Trong khi các huyện nghèo còn thiếu về nguồn lực, yếu về nhân lực chất lượng cao thì đây là sự lãng phí rất lớn nguồn tài nguyên chất xám.

Với mong muốn góp thêm lời giải cho bài toán hiện thực hóa khát vọng phồn vinh vùng Tây Bắc, Tiến sĩ Trần Huy Ngọc, giảng viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh-Đại học Thái Nguyên cho rằng: "Để ngành công nghiệp của vùng Tây Bắc phát triển đúng hướng và hiệu quả, cần có sự quy hoạch căn cơ cho cả vùng, đồng thời có sự liên kết, liên thông, hỗ trợ phát triển chặt chẽ giữa các địa phương, giữa Tây Bắc với các vùng lân cận; kết nối trục phát triển từ đồng bằng lên trung du và vùng núi Tây Bắc. Đặc biệt, cần ưu tiên phát triển những lĩnh vực thế mạnh của vùng để tạo ra các sản phẩm có thương hiệu, bảo đảm tính bền vững trong dây chuyền sản xuất, lưu thông hàng hóa đến cả nước và ra thế giới.

Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, việc xóa đói, giảm nghèo của các địa phương Tây Bắc vẫn được thực hiện rất tích cực, nhưng vẫn mang nặng tính chắp vá, như thể “ban ơn” và nhất là tiến hành từ “phần ngọn” nên thiếu tính bền vững. Phần việc này nhất thiết phải có lộ trình, gắn với quy hoạch và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng Tây Bắc. Làm được điều đó, tất yếu trước hết phải mạnh mẽ thay đổi tư duy của những người đứng đầu ở tất cả các cấp.

Xây nền móng vững bền từ cơ sở

Về với Tây Bắc, chúng tôi cảm nhận rõ nét sự gắn kết, "hơi ấm" từ những "mái nhà chung" là các chi bộ thôn, bản. Chi bộ-hai tiếng ấy vang lên vừa gần gũi, thân quen, vừa là điểm tựa vững vàng, là tiếng nói, nguyện vọng của đồng bào ở mỗi thôn, bản nghèo khó. Chúng tôi ghi nhận thực tế, những bản có chi bộ mạnh thì đồng bào có đời sống kinh tế-xã hội phát triển, dân trí được nâng cao. Ngược lại, những nơi trắng đảng viên, chi bộ còn non yếu là những địa bàn phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; là mắt xích yếu dễ bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm làm suy yếu chính quyền, giảm uy tín của Ðảng.

Nhận thức rõ nhiệm vụ chính trị quan trọng này, những năm qua, Đảng bộ các tỉnh vùng Tây Bắc đã lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt từ tỉnh xuống huyện, xã, đẩy mạnh củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo chi bộ các thôn, bản. Đồng chí Tống Thanh Hải, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lai Châu khẳng định: “Củng cố hệ thống chính trị là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nhất ở khu vực Tây Bắc, đặc biệt là ở vùng cao, biên giới. Bởi lẽ, có hạt nhân lãnh đạo đủ năng lực, có đội ngũ cán bộ ngang tầm thì mới mong có những bước tiến bộ, phát triển của các vùng quê Tây Bắc”. Trên tinh thần đó, sắp tới, đảng bộ các tỉnh sẽ tiếp tục chú trọng nâng cao chất lượng nhân sự ban chấp hành đảng bộ cơ sở, cấp ủy viên, bí thư chi bộ cũng như chất lượng sinh hoạt chi bộ. Đây là tiền đề, là giải pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng cơ sở.

Đồng chí Vừ A Bằng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên tâm huyết chia sẻ: "Chi bộ mạnh không hẳn vì số lượng đảng viên đông mà nhờ kinh nghiệm, năng lực, trình độ chuyên môn, nhiệt huyết của các đảng viên". Chính vì vậy, Tỉnh ủy Điện Biên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy các cấp thực hiện tốt nhiều biện pháp để rèn luyện, bồi dưỡng các đảng viên mới. Phân công các đảng viên là cán bộ biên phòng, thầy, cô giáo về thôn, bản để sinh hoạt Đảng nhằm theo dõi, bồi dưỡng, giới thiệu và kết nạp đảng người dân tộc thiểu số... Đặc biệt, Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chính quyền địa phương và làm tốt công tác phối hợp với các đơn vị quân đội, công an để lựa chọn, bồi dưỡng và phát triển đảng cho thanh niên dân tộc thiểu số đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, công an nghĩa vụ để tạo nguồn cán bộ cho cơ sở sau này.

Thực hiện phương châm “ở đâu có dân, ở đó có đảng viên”, các cấp ủy, tổ chức đảng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác phát triển đảng viên trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy vậy, chất lượng và số lượng đảng viên ở các thôn, bản miền núi Tây Bắc vẫn có sự chênh lệch lớn; năng lực lãnh đạo của bí thư, cấp ủy chi bộ vẫn là khâu yếu. Từ thực tế đó, phần việc này cần có sự tập trung lãnh đạo toàn diện, bài bản hơn nữa. Trong đó, sự quan tâm, chỉ đạo của các ban Đảng Trung ương, sự quyết tâm quyết liệt, kiên quyết, kiên trì của Ban Thường vụ các tỉnh là yếu tố giữ vai trò quyết định. Cần sớm làm tốt công tác tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để xác định phương hướng cho công tác phát triển đảng ở khu vực đặc thù, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng với đó, các cấp ủy chú trọng hơn để việc xây dựng mô hình điểm, nhân rộng điển hình, mô hình hay ở tất cả các cấp.

Tây Bắc vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về an ninh chính trị, dân tộc, tôn giáo. Bởi lẽ đó, yêu cầu đặt ra cho tất cả cấp ủy, chính quyền các cấp vùng Tây Bắc cần dồn sức lãnh đạo, tập trung xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, nhất là chi bộ ở các thôn, bản. Khi hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh sẽ là hạt nhân đoàn kết, khơi dậy sức dân, quy tụ lòng dân Tây Bắc để hiện thực hóa các chủ trương, chính sách của Đảng ở cơ sở; phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; hiện thực hóa khát vọng ấm no, mạnh giàu cho toàn dân Tây Bắc.

THAY LỜI KẾT

Dọc dài khắp miền Tây Bắc, dù ở bất cứ đâu, Đảng luôn gần gũi, hiện hữu và đồng bào Tây Bắc luôn một lòng theo Đảng. Những chủ trương, quyết sách của Đảng thực sự lan tỏa đến cơ sở, được cụ thể hóa trong từng nghị quyết chi bộ thôn, bản và mang lại hiệu quả, giá trị hiển hiện trên thực tế. Dẫu còn lắm gian truân, bộn bề thiếu khó, nhưng Tây Bắc đang vươn mình, hòa chung nhịp đổi mới cùng cả nước là điều không thể phủ nhận.

Với những cứ liệu đã thu thập, được thể hiện qua từng bài viết, nhóm phóng viên Báo QĐND mong muốn gửi tới bạn đọc ánh nhìn toàn diện về vùng đất chiến lược của Tổ quốc; gửi gắm những đề xuất, kiến nghị với ý nguyện góp phần hóa giải những trở lực, đưa Tây Bắc bứt phá, đi lên.

Nhóm PV Báo QĐND