Nguyên nhân có nhiều và để hóa giải những trở lực, giúp vùng đất giàu truyền thống cách mạng vươn mình hòa chung nhịp đổi mới cùng cả nước thì cần nhiều hơn những giải pháp vĩ mô.

 “Nàng công chúa ngủ quên”

Mở đầu buổi làm việc với chúng tôi, đồng chí Nguyễn Hợp Cường, Phó bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Vân Hồ (Sơn La) ví von: “Huyện Vân Hồ chẳng khác gì một nàng công chúa xinh đẹp ngủ quên trong rừng, đang chờ những chàng trai khôi ngô đến đánh thức”. Ngẫm lời đồng chí Cường nói thật sâu sắc và có cơ sở.

Vốn là huyện mới được tách ra từ huyện Mộc Châu, dĩ nhiên, Vân Hồ “trẻ trung như cô gái đôi mươi”. Với sức trẻ năng động ấy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Vân Hồ vừa qua đề ra giải pháp lãnh đạo thu hút đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, du lịch; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, nâng cao giá trị sản phẩm gắn kết với thị trường tiêu thụ. Đó cũng là lý do Vân Hồ ồ ạt, chào đón các nhà đầu tư được ví như những “chàng trai khôi ngô” đến “dạm ngõ”. Đến tháng 11-2021, Vân Hồ có gần 40 dự án lớn nhỏ từ các công ty, tập đoàn được tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư với nguồn vốn lên tới hơn 3.600 tỷ đồng.

leftcenterrightdel
Mô hình trồng cây ăn trái trên địa hình đồi dốc ở xã Mường Nhé (Mường Nhé, Điện Biên). 

Nghe thì có vẻ quy mô hoành tráng, nhưng chính anh Cường lại thở dài ngao ngán: “Chết dở các anh ạ! Cũng chính cách thức đầu tư ồ ạt này khiến Vân Hồ rơi vào thế khó, bởi thực tế chỉ có 3 trong tổng số 40 dự án là làm ăn có hiệu quả, còn lại đều cầm chừng hoặc chỉ đăng ký rồi bỏ đấy, gây lãng phí nguồn lực của địa phương”. Vân Hồ bởi vậy vẫn đang là “nàng công chúa ngủ quên chưa được đánh thức”. Nhìn lại một nhiệm kỳ vừa qua, mặc dù đạt nhiều kết quả nhưng Vân Hồ vẫn đang là huyện nghèo, kinh tế manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu, tự cung tự cấp, phát triển chưa vững chắc, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh. Quả thực, từ nghị quyết đến cuộc sống còn là một khoảng cách khá xa, niềm khát vọng đổi đời của nhân dân Vân Hồ vẫn còn “lơ lửng trên đỉnh núi”.

Kỳ vọng vào lợi thế có hơn 4.000ha cây ăn quả, hiện nay, Vân Hồ đã có 6 sản phẩm OCOP chất lượng như gạo, mật ong, măng, chè... OCOP có lẽ là "từ khóa" được người dân Sơn La nhắc đến nhiều nhất trong những năm qua và cho thấy là bước đi đúng đắn của cấp ủy, chính quyền các cấp. Thế nhưng ở nhiều địa phương, OCOP chưa hẳn là giấc mơ đổi đời mà còn nhiều vấn đề trăn trở.

Từ khi có chủ trương về phát triển cây ăn quả trên đất dốc thay thế các loại cây kém hiệu quả, đồng chí Hà Xuân Thuyền, Phó chủ tịch UBND xã Tân Xuân (huyện Vân Hồ) đã nhiều lần họp dân bản triển khai nghị quyết thực hiện chuyển đổi cây lúa nương để tập trung phát triển cây ăn quả có giá trị. “Nghị quyết triển khai là vậy nhưng đi vào thực hiện mới thấy khó. Mới đầu dân bản chưa biết gì nhiều về sản phẩm OCOP, cứ nghĩ như cắm một cái cây xuống đất, tưới nước, bón phân rồi chờ ngày thu hoạch. Thực tế thì đó là một quy trình nghiêm ngặt từ lựa chọn con giống, cây giống, xây dựng phương án kinh doanh, quảng bá sản phẩm...”, anh Thuyền thở dài. Bởi vậy, mặc dù Tân Xuân đã có sản phẩm măng nứa được công nhận là sản phẩm OCOP nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, hệ thống cơ sở hạ tầng còn thiếu và yếu, khiến sản xuất và tiêu thụ ngày càng khó khăn.

Tìm hiểu sản phẩm OCOP ở các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu chúng tôi cũng ghi nhận tình trạng tương tự. Thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tỉnh Lai Châu định hướng chè là cây trồng chủ lực, chuối được phát triển xuất khẩu sang Trung Quốc. Kỳ vọng nhiều nhưng sau ảnh hưởng của dịch Covid-19, thời điểm cửa khẩu giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc ngưng trệ hoạt động, người dân rơi vào cảnh lao đao. Nhìn lại sau một nhiệm kỳ, việc phát triển kinh tế-xã hội ở nhiều địa phương chưa như kỳ vọng, nhiều tiềm năng, thế mạnh chưa được khai thác hiệu quả và vững chắc.

Giấc mơ rơi trên đỉnh núi

Lật giở cuốn sổ nhàu nát, cũ kỹ chằng chịt đầy con chữ, đồng chí Pờ Xè Chừ, Bí thư Đảng ủy xã Chung Chải (Mường Nhé, Điện Biên) kể rằng, vào đầu thập niên 1980, rừng Mường Nhé giữ kỷ lục trên cả nước với hơn 310.000ha rừng. Những cây cổ thụ nguyên sinh lừng lững như “cột chống trời”, 7-8 người ôm không xuể. Mọi thứ bắt đầu thay đổi trước làn sóng di cư đến chóng mặt vào địa bàn, đỉnh điểm là năm 2005. Dân di cư trú ẩn trong những cánh rừng sâu để chặt hạ rừng xanh, đốt nương làm rẫy. Rừng Mường Nhé đang “chảy máu”, đó là điều mà ai cũng thấy và quặn lòng xót xa.

Để ngăn chặn tình trạng phá rừng và phát triển rừng bền vững gắn với xóa đói, giảm nghèo cho người dân biên giới cực Tây Tổ quốc, Huyện ủy Mường Nhé nhiệm kỳ 2015-2020 ban hành Nghị quyết số 05-NQ/HU ngày 21-12-2015 về việc bảo vệ và phát triển rừng gắn với sắp xếp ổn định dân cư, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nghị quyết này được xem như việc mở lối cho nhân dân cực Tây Tổ quốc thoát nghèo, trong đó kỳ vọng các hộ dân tham gia trồng rừng sản xuất có thu nhập đạt bình quân từ 80 triệu đồng/ha/năm trở lên.

Nhưng sau 5 năm triển khai thực hiện, hầu hết mục tiêu nghị quyết đề ra không đạt. Năm 2017, anh Sừng Go Cà ở bản Suối Voi, xã Leng Su Sìn (Mường Nhé) trồng 7.000m2 keo tai tượng nhưng đến năm 2019, gia đình anh mới được hỗ trợ hơn 2 triệu đồng tiền công trồng và chăm sóc rừng. Hiện tại, không thể phá bỏ rừng keo, cũng không thể chuyển đổi cơ cấu cây trồng, anh Cà đành phó mặc thiên nhiên. Đó là thực trạng chung của hầu hết các xã trồng rừng theo Nghị quyết 05. Lý do được chính quyền sở tại đưa ra là: Từ năm 2017, huyện bàn giao về cho xã làm chủ đầu tư, đến nay, một số diện tích không có hồ sơ thiết kế nên không thể thanh toán được. Hay như năm 2007, Tỉnh ủy Sơn La ban hành chủ trương phát triển cây cao su trên địa bàn. Cây cao su lúc ấy được ví như “vàng trắng” giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo. Nhưng sau 10 năm, thu nhập của nhiều hộ dân mỗi tháng chỉ có vài trăm nghìn đồng tiền công chăm sóc. Vậy là niềm tin và kỳ vọng về sự đổi đời của người dân cũng dần mai một.

leftcenterrightdel
Mô hình chăn nuôi gia súc trong chuồng mang lại hiệu quả kinh tế cao ở bản Nang Phai, xã Mường Bú (Mường La, Sơn La). Ảnh: TRUNG HIẾU 

Kết quả khảo sát cho thấy, thời gian qua, nghị quyết các cấp đã có nhiều chủ trương, lãnh đạo đúng đắn, song quá trình triển khai thực hiện gặp không ít khó khăn. Một trong những rào cản đó là chất lượng nguồn nhân lực của vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) trên địa bàn còn khoảng cách khá lớn so với cả nước, trong khi đây là yếu tố căn cơ, quyết định thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Hiện nay, lao động DTTS ở các tỉnh Tây Bắc chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp, số lao động được đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu là lao động giản đơn và chưa qua đào tạo. Mặc dù hằng năm, các tỉnh Tây Bắc vẫn dành chỉ tiêu cho các đối tượng cử tuyển, tuy nhiên, việc tuyển dụng rất khó khăn vì biên chế ít và một số năng lực chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.

Việc đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, không ai khác chính là các chi bộ đảng ở cơ sở và các đảng viên gương mẫu, tuy nhiên ở các tỉnh Tây Bắc, vai trò, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng và đảng viên chưa cao. Một số chi bộ cấp cơ sở duy trì chế độ sinh hoạt định kỳ chưa thường xuyên; việc đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt còn hạn chế. Thậm chí, một số đảng viên còn vi phạm, phải xem xét, kỷ luật. Trong khi đó, công tác phát triển Đảng ở cơ sở gặp nhiều khó khăn trong khâu tạo nguồn. Nguyên nhân chính là do: Người trong độ tuổi lao động đi làm ăn xa, di cư tự do; một bộ phận không có hướng phấn đấu vào Ðảng. Nhiều địa phương còn tình trạng đảng viên xin ra khỏi Đảng, nguy cơ tái bản trắng đảng viên vẫn hiển hiện. Đây chính là những rào cản lớn trong việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn Tây Bắc.

Khoảng tối dưới chân đèn

Chia tay Sín Thầu (Mường Nhé, Điện Biên), đi dọc theo tuyến tỉnh lộ Pắc Ma, chúng tôi đến huyện Mường Tè (Lai Châu). Chúng tôi chợt liên tưởng đến hình ảnh người lái đò trong tác phẩm "Người lái đò sông Đà" của nhà văn Nguyễn Tuân. Sự hùng vĩ của dòng Đà giang ngày ấy bây giờ đã phần nào suy giảm. Dọc hai bên bờ là những công trình thủy điện đang ngày đêm thi công. Không ai phủ nhận được giá trị mà thủy điện mang lại, thế nhưng thủy điện cũng có mặt trái. Vấn đề là muốn phát triển bền vững thủy điện thì nhà quản lý phải hạn chế được những tác động tiêu cực của thủy điện đến môi trường và đời sống xã hội. Đúng như lời khẳng định của đồng chí Tống Thanh Hải, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lai Châu: “Lai Châu không đánh đổi cái lợi của thủy điện để lấy bất lợi, mà phải tính toán kỹ lưỡng trên nhiều tiêu chí đối với từng dự án”.

Hơn một năm trước, chúng tôi trở về khu Nặm Pặn (bản Pắc Ma, xã Mường Tè) lúc đó, hơn 50 hộ dân thuộc dân tộc La Hủ vừa mới về tái định cư. Người dân khi ấy vẫn chưa có đất canh tác sản xuất, toàn bộ nguồn sống chủ yếu dựa vào trợ cấp xã hội, nhà tranh tre dột nát còn chiếm phần nhiều. Đồng chí Hoàng Bình Nhưỡng, Phó trưởng ban Dân tộc tỉnh Lai Châu trăn trở, La Hủ và Mảng là hai dân tộc lõi nghèo của tỉnh. Thế nhưng theo Quyết định số 1227/QĐ-TTg ngày 14-7-2021 của Thủ tướng Chính phủ thì dân tộc La Hủ không thuộc nhóm khó khăn đặc thù. Mặt khác, thực hiện Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 4-6-2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách các xã khu vực 3, 2, 1 vùng đồng bào DTTS và miền núi, tới đây, đối tượng vùng đặc biệt khó khăn được thụ hưởng các chính sách sẽ còn giảm mạnh. Theo đồng chí Hoàng Bình Nhưỡng, đây là bài toán khó, đặt gánh nặng đối với việc bảo đảm an sinh xã hội của không chỉ riêng Lai Châu mà cả các tỉnh Tây Bắc.

Thực tế trên đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm. Vốn là vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, thường xuyên được thụ hưởng nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ trong thời gian dài nên người dân các tỉnh Tây Bắc còn mang nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại. Hơn nữa, việc xây dựng nông thôn mới ở nhiều địa phương vẫn nặng về hình thức, chạy theo thành tích mà chưa chú trọng đến chất lượng. Hệ quả là, bộ mặt nông thôn có đổi mới nhưng chưa thật sự bền vững.

Một trong những trở ngại lớn của các tỉnh Tây Bắc là địa bàn xa trung tâm; vị trí địa lý, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, bất cập. Đến nay, nhiều địa phương vẫn còn nhiều “không” (không điện, không nước sạch, không sóng điện thoại...). Nhu cầu đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn, trong khi đó ngân sách Trung ương phân bổ có hạn. Bởi vậy, Tây Bắc vốn là vùng đất nhiều tiềm năng, thế mạnh về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, tuy nhiên nhìn trong tổng thể, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, hiệu quả thấp, thiếu sức cạnh tranh. Nhiều nguồn lực và lợi thế của vùng chưa được khai thác và phát huy tốt; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; tỷ lệ hộ nghèo cao. Tình trạng di cư tự do và các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hoạt động trái pháp luật vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định.

Những hạn chế trên do những nguyên nhân khách quan như: Các chế độ, chính sách, nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh phức tạp. Nguyên nhân chủ quan là do công tác dự báo, quy hoạch thu hút đầu tư còn yếu. Việc đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ còn hạn chế. Công tác thanh tra, kiểm tra giám sát thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ chưa thường xuyên, xử lý sai phạm có mặt chưa kiên quyết.

Thực trạng trên cho thấy, để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống đồng bào Tây Bắc, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Bởi thế, muốn phát triển Tây Bắc thành những trọng điểm kinh tế, thành những thành phố trên rừng... thì còn nhiều phần việc phải làm một cách khẩn trương và đồng bộ.

(còn nữa)

Nhóm PV Báo QĐND