Giữa dòng chảy mưu sinh ngày một gấp gáp, họ chọn ở lại với tiếng chày giã vỏ và những tờ giấy mỏng manh như một cách giữ lửa cho ký ức cha ông.

Làng giấy dó Phong Phú được công nhận làng nghề cấp tỉnh từ năm 2007. Không ai còn nhớ chính xác nghề có từ bao giờ, chỉ biết rằng khi những người cao tuổi bắt đầu nhận thức được thế giới quanh mình thì đã nghe tiếng chày giã đều như nhịp thở của làng. Có thời, thương lái từ Thanh Hóa, Hà Tĩnh tìm về tấp nập. Giấy dó bán chạy, từ loại viết chữ nho, làm quạt, quấn hương đến dán mình cá biển.

Nghề giấy dó đã trải qua nhiều thế hệ tiếp nối ở làng Phong Phú. 

Giờ đây, thời vàng son chỉ còn trong ký ức. Hàng trăm hộ dân từng theo nghề đã chuyển sang công việc khác. Làng chỉ còn ba hộ bám trụ, tất cả đều đã ngoài sáu mươi tuổi.

Bà Nguyễn Thị Loan, 66 tuổi, vừa xếp lại những khuôn giấy vừa chậm rãi kể: “Gia đình tôi nối nghiệp hơn 40 năm rồi. Nghề này ông bà để lại, bỏ thì tiếc lắm. Thu nhập không cao, nhưng còn làm được ngày nào thì còn giữ nghề ngày đó”.

Theo bà Loan, làm giấy dó không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự kiên trì. Nguyên liệu chính là vỏ cây niệt. Từ tước vỏ, luộc, phơi, nấu với vôi, vo rửa đến giã nhuyễn rồi đãi nước, seo giấy… mỗi công đoạn đều tốn công và phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Chỉ riêng một thùng 50kg nguyên liệu đã cần tới 20kg than để nấu.

Gia đình bà Loan còn duy trì được nghề truyền thống nhiều nhất trong 3 nhà. 

“Khó nhất là cạo vỏ cho thật trắng. Sơ suất một chút là giấy ố màu ngay”, bà Loan nói. Khâu seo giấy tưởng nhẹ nhàng nhưng cần đôi tay khéo léo. Người thợ múc nước bột, đặt lên khuôn, gác lên đòn tre cho nước chảy xuống. Khi lớp bột mỏng đọng lại đều trên mặt khuôn, mới đem phơi nắng. Giấy dày hay mỏng phụ thuộc vào cách điều chỉnh khuôn và độ bột.

Một tờ giấy dó mỏng, trắng đục, trong và dai có giá khoảng 5.000 đồng. Loại dày, đặt riêng để làm diều, đèn lồng hay phục vụ mỹ thuật có thể lên tới 15.000 đồng mỗi tờ. Nhưng đơn hàng không đều, lại phải đặt trước. Ngày thuận lợi, thu nhập chừng 300.000 đồng.

Bà Trương Thị Hải chia sẻ thêm: “Ngày mưa thì làm vỏ, ngày nắng tranh thủ tráng và phơi. Nghề này cần sự chịu khó, mà lớp trẻ giờ ít ai mặn mà”. Con cháu trong làng phần lớn đi làm công ty, xuất khẩu lao động hoặc buôn bán. Không còn người trẻ nối nghiệp, ba hộ còn lại làm nghề trong tâm thế “túc tắc qua ngày”.

Giấy dó Phong Phú từng nổi tiếng nhờ độ bền cao. Sợi dó có khả năng hút và nhả ẩm tốt, giúp giấy để nhiều năm không mục. Hằng năm vẫn có khách từ Hà Nội về đặt làm loại giấy đẹp phục vụ nghệ thuật. Song thị trường ngày càng thu hẹp, nguyên liệu khan hiếm, khiến nghề thêm phần chật vật.

Giấy dó được tranh thủ phơi nắng trước khi ra thành phẩm. 

Hiện tại, giấy dó Phong Phú được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ An như một minh chứng cho truyền thống lâu đời. Nhưng ngoài đời sống, nghề đang đối mặt nguy cơ thất truyền. Ba hộ làm nghề, người trẻ nhất cũng đã ngoài sáu mươi tuổi.

Bà Hoàng Thị Xuyến, chuyên viên Phòng Kinh tế - Hạ tầng Đô thị phường Vinh Lộc, cho biết: “Trước đây toàn phường có hàng trăm hộ theo nghề, riêng năm 2016 còn khoảng 120 hộ. Nay chỉ còn ba hộ bám trụ. Việc duy trì nghề gặp nhiều khó khăn do nguyên liệu khan hiếm và đầu ra thiếu ổn định”.

Theo bà Xuyến, dù đã được công nhận làng nghề, nhưng tương lai giấy dó hiện phụ thuộc chủ yếu vào nỗ lực tự thân của những hộ còn gắn bó. Địa phương vẫn quan tâm tuyên truyền, khuyến khích bảo tồn, song để nghề sống được thì cần có thị trường và lớp kế cận.

Chiều xuống, trong khoảng sân lặng gió, những tờ giấy dó trắng đục khẽ lay theo nắng nhạt. Ba mái nhà vẫn đỏ lửa, tiếng chày giã vỏ vang lên đều đặn. Họ làm giấy không chỉ để bán, mà để giữ lại một phần hồn của làng. Thế nhưng, khi sức người dần cạn mà chưa có bàn tay trẻ tiếp nối, những tờ giấy mỏng manh ấy vẫn đang oằn mình gánh nỗi lo đứt gãy của một làng nghề hàng trăm năm tuổi.