Mờ sáng, khi sương còn phủ kín mặt hồ Ea Kao (phường Ea Kao, tỉnh Đắk Lắk), những chiếc thuyền nhỏ cùng người dân đã lặng lẽ rẽ nước ra xa bờ bắt hến mưu sinh.
Hồ được xây dựng và đưa vào vận hành từ năm 1983, có diện tích gần 289ha, chiều dài hơn 4,2km. Hồ Ea Kao được gọi theo tên dòng suối Ea Kao. Trong tiếng Ê Đê, Ea nghĩa là nước, Kao nghĩa là không bao giờ cạn. Vì vậy, Ea Kao được hiểu là "hồ nước không bao giờ cạn". Người dân nơi đây còn gọi hồ bằng cái tên khác là Ktơng Jǔ, nghĩa là vùng nước có vực sâu.
 |
| Vợ chồng anh Y Ngem Hmok và H Bé Bkrông đãi hến dưới hồ Ea Kao. |
Hằng năm, vào cao điểm mùa khô từ tháng 3 đến tháng 5, cư dân địa phương lại tìm đến hồ Ea Kao để cào hến. Khi trời còn chưa hửng nắng, anh Y Ngem Hmok (buôn Hwiê, phường Ea Kao) đã bơi thuyền ra giữa hồ để cào hến, đến khoảng 12 giờ mới vào bờ. Giữa mặt hồ rộng lớn, người đàn ông lặng lẽ kéo từng mẻ giã cào dưới làn nước đục. Sau khi vào bờ, anh Y Ngem cùng vợ là chị H Bé Bkrông tiếp tục dầm mình hàng giờ dưới nước để đãi cát lẫn với từng con hến. Công việc tưởng đơn giản nhưng vô cùng vất vả. Hai vợ chồng phải cúi lưng liên tục, đôi tay ngâm nước đến nhăn nheo, đau rát. “Làm nghề này cực lắm, mỏi lưng, nặng tay, dầm nước từ sáng tới chiều”, chị H Bé chia sẻ. Theo anh Y Ngem, lượng hến mỗi ngày tùy thuộc vào con nước và may mắn. Có ngày chỉ cào được khoảng 30-50kg, hôm trúng hến có thể đạt tới 80kg. Hến sau khi làm sạch sẽ được bán sỉ cho thương lái với giá dao động 12.000-15.000 đồng/kg, tùy thời điểm và kích cỡ lớn nhỏ. Anh Y Ngem cho biết, hến ở hồ Ea Kao có quanh năm nhưng nhiều nhất vào mùa khô. “Mùa khô hến nhiều hơn nên dễ kiếm ăn. Tới mùa mưa hến thưa dần, phải ra xa bờ mới cào được”, anh nói.
Dẫu công việc nặng nhọc, thu nhập bấp bênh theo từng ngày, nhưng với nhiều gia đình ven hồ, những con hến nhỏ bé ấy vẫn là nguồn sống chính. Từ tinh mơ đến xế chiều, họ lặng lẽ dầm mình dưới nước, mưu sinh trên “hồ nước không bao giờ cạn”, nơi không chỉ giữ nguồn nước cho buôn làng mà còn nuôi sống biết bao phận người quanh năm bám hồ kiếm kế sinh nhai.
Giữa cái nắng tháng 4 gay gắt trên cao nguyên Đắk Lắk, những giọt mồ hôi lăn dài trên gương mặt sạm nắng của chiến sĩ mới Tiểu đoàn Bộ binh 303 (Trung đoàn Bộ binh 584, Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk) dường như vơi đi khi nhận những bát nước mát từ tay các chị hội viên phụ nữ đơn vị.
Mỗi năm, hoạt động sản xuất nông nghiệp của Việt Nam phát sinh hàng trăm nghìn tấn rác thải. Trong đó, bao bì thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) chiếm tỷ lệ lớn và thuộc nhóm chất thải nguy hại. Tuy nhiên, việc thu gom, xử lý loại rác này vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều nơi đã có bể chứa nhưng rác sau thu gom lại tồn đọng do không có đơn vị vận chuyển, xử lý, vì vậy, người dân phải tự đốt hoặc trộn với rác sinh hoạt.