Phát hiện sớm giúp nâng tỷ lệ sống lên 85-90%

Phóng viên (PV): Thưa ông, ung thư vú ở phụ nữ hiện nay phổ biến ở mức độ nào, và vì sao tỷ lệ mắc lại có xu hướng gia tăng so với trước đây?

PGS, TS Lê Hồng Quang: Ung thư vú là căn bệnh ác tính phổ biến nhất ở phụ nữ, không chỉ trên thế giới mà cả tại Việt Nam.

Theo các ghi nhận ung thư toàn cầu, tỷ lệ mắc bệnh vẫn không ngừng gia tăng. Ở Việt Nam, ung thư vú cũng là loại ung thư thường gặp nhất ở nữ giới, và một điểm đáng chú ý là bệnh đang có xu hướng trẻ hóa trong những năm gần đây.

Tuy nhiên, thông qua các chương trình giáo dục sức khỏe và truyền thông, tỷ lệ bệnh nhân phát hiện ở giai đoạn muộn đã giảm rõ rệt. Ước tính, mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 25.000 ca mắc mới ung thư vú. Nhưng nhờ phát hiện sớm và điều trị đúng, tỷ lệ sống thêm sau 5 năm của bệnh nhân ung thư vú tại Việt Nam đã đạt 85% - 90%.

PGS, TS Lê Hồng Quang, Trưởng khoa Ngoại vú, Bệnh viện K chia sẻ tại hội thảo. 

Trí tuệ nhân tạo và y học chính xác mở ra hướng điều trị mới

PV: Ông có thể chia sẻ những tiến bộ nổi bật trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú hiện nay?

PGS, TS Lê Hồng Quang: Thời gian gần đây, những bước tiến trong điều trị và quản lý bệnh ung thư vú ở Việt Nam đã bắt kịp trình độ thế giới ở nhiều lĩnh vực. Trong đó, điều trị đa mô thức như phẫu thuật, các phác đồ điều trị, thuốc miễn dịch và các kỹ thuật xạ trị tiên tiến; chẩn đoán phân tử như xét nghiệm gen, xét nghiệm hóa mô miễn dịch để đánh giá các phân nhóm ung thư vú, từ đó áp dụng vào điều trị chính xác cho từng bệnh nhân.

Về chẩn đoán và phát hiện sớm, nhờ các chương trình truyền thông và giáo dục sức khỏe, tỷ lệ phụ nữ đến khám ở giai đoạn muộn đã giảm rõ rệt. Nếu như khoảng 15 năm trước, chỉ khoảng 1/4 bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn sớm, thì hiện nay con số này đã đảo chiều ngoạn mục, với khoảng 3/4 bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Đây là một bước tiến rất quan trọng trong sàng lọc và phát hiện sớm.

Về điều trị, chúng ta đã bắt kịp với các tiến bộ của thế giới trong nhiều lĩnh vực như phẫu thuật, hóa trị, liệu pháp miễn dịch và các kỹ thuật xạ trị tiên tiến. Ngoài ra, trong chẩn đoán và đánh giá bệnh, các kỹ thuật sinh học phân tử, xét nghiệm gene, xét nghiệm nội tiết và miễn dịch cũng đã được áp dụng rộng rãi, giúp phân nhóm ung thư vú và cá thể hóa điều trị hiệu quả hơn.

Gần đây, trí tuệ nhân tạo (AI) cũng được ứng dụng để hỗ trợ đánh giá chính xác hơn. Bên cạnh đó, chúng tôi triển khai nhiều chương trình quản lý và chăm sóc bệnh nhân toàn diện, từ khi phát hiện bệnh đến sau điều trị, giúp người bệnh được theo dõi và hỗ trợ lâu dài khi trở lại cuộc sống cộng đồng. Nhờ hệ thống tiến bộ đồng bộ như vậy, hiệu quả điều trị được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ sống tăng lên và chất lượng sống của bệnh nhân cũng được cải thiện đáng kể.

Bác sĩ Bệnh viện K thăm khám cho bệnh nhân. 

PV: Tại sao hội thảo lần này lại nhấn mạnh đến điều trị đa mô thức và kỷ nguyên y học chính xác, thưa ông?

PGS, TS Lê Hồng Quang: Ung thư vú là một trong những bệnh lý điển hình cần điều trị theo hướng đa mô thức.

Điều này có nghĩa là không một chuyên khoa đơn lẻ nào có thể kiểm soát toàn diện bệnh. Việc điều trị cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên ngành như chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, nội khoa, ngoại khoa và xạ trị. Các nhóm bác sĩ sẽ làm việc trong một hệ thống thống nhất, tuân thủ quy trình chuyên môn chặt chẽ, từ đó xây dựng chiến lược điều trị xuyên suốt cho từng bệnh nhân. Đồng thời, các phác đồ luôn được cập nhật theo những tiến bộ mới nhất trên thế giới nhằm cá thể hóa điều trị và mang lại hiệu quả tối ưu.

Nhờ các tiến bộ trong điều trị, chất lượng sống của bệnh nhân đã được nâng cao đáng kể. Ví dụ, các kỹ thuật xạ trị hiện đại giúp giảm tác dụng phụ. Phẫu thuật tạo hình - tái tạo vú giúp bệnh nhân giữ được hình thể, cải thiện tâm lý và sự tự tin sau điều trị. Mục tiêu hiện nay không chỉ là chữa khỏi bệnh, mà còn giúp bệnh nhân sống khỏe mạnh, ổn định tinh thần và duy trì chất lượng cuộc sống tốt.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!