Tuyển chọn từ yêu cầu của địa bàn
Đoàn KT-QP 313 thực hiện nhiệm vụ trải rộng trên địa bàn 8 xã biên giới của tỉnh Tuyên Quang, có đường biên giới dài hơn 150km, địa hình chủ yếu là núi cao, vực sâu, giao thông khó khăn. Toàn vùng có 19 dân tộc cùng sinh sống; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao. Mỗi xã, thôn có đặc điểm tự nhiên, tập quán canh tác, nhu cầu phát triển khác nhau. Vì vậy, tuyển được người có bằng cấp mới chỉ là điều kiện ban đầu, quan trọng hơn là người được chọn phải phù hợp với địa bàn, chuyên môn, nhiệm vụ cụ thể.
Theo Thượng tá Đỗ Văn Tiến, Phó đoàn trưởng, Trưởng ban Quản lý Dự án 174 Đoàn KT-QP 313, trước mỗi đợt tuyển chọn, đơn vị phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương khảo sát nhu cầu nhân lực, xác định rõ những ngành nghề còn thiếu tại cơ sở. Trên cơ sở đó, Ban tuyển chọn xây dựng tiêu chí, tổ chức tiếp nhận hồ sơ, phỏng vấn và xét tuyển chặt chẽ.
 |
| Đội viên trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 313 (Quân khu 2) hướng dẫn bà con kỹ thuật chăm sóc sức khỏe cho gia súc, tháng 3-2026. |
Điểm nổi bật là phần lớn đội viên được tuyển chọn là người dân tộc thiểu số trên địa bàn: Tày, Dao, La Chí, Nùng, Giáy, Mông. Đây là lợi thế rất lớn bởi họ hiểu phong tục, tập quán, biết tiếng đồng bào, dễ gần gũi, tuyên truyền và hướng dẫn người dân. Khi đội viên nói được tiếng bản địa, kiến thức tưởng như khô cứng về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, phòng, chống dịch bệnh được chuyển tải bằng cách nói giản dị, gần gũi, giúp bà con dễ nghe, dễ hiểu, làm theo.
Từ phố thị đến bản xa
Nguyễn Thùy Linh, đội viên Đội 4, Đoàn KT-QP 313, là một trong những đội viên TTTTN được bố trí công tác tại thôn Tả Chải, xã Bản Máy (Tuyên Quang), một trong những địa bàn khó khăn nhất vùng biên giới. Linh tốt nghiệp Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Gia đình có điều kiện kinh tế, sinh sống tại phường Hà Giang 2, khu vực đô thị của tỉnh, với tấm bằng đại học chính quy, Linh có nhiều cơ hội tìm kiếm một công việc ổn định, phù hợp với chuyên môn, nhưng Linh đã tạm gác dự định cá nhân, tình nguyện lên vùng biên giới.
 |
| Đội viên trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 313 (Quân khu 2) hướng dẫn bà con trên địa bàn trồng cây dược liệu. |
Những ngày đầu, đường xa, thời tiết khắc nghiệt, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn khiến Linh không khỏi bỡ ngỡ. Được cán bộ đơn vị hướng dẫn, đồng đội sẻ chia, bà con đùm bọc, Linh dần quen với nhịp sống ở bản. Linh cùng cán bộ Đội 4 xuống từng hộ dân, tìm hiểu hoàn cảnh, tuyên truyền giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ nguồn nước, hướng dẫn bà con sắp xếp nơi ở, cải tạo khuôn viên, xây dựng nếp sống văn minh.
Từ một sinh viên quen với giảng đường và cuộc sống đô thị, Nguyễn Thùy Linh đã dần như người thân gần gũi của đồng bào. Những chuyến đi bộ vào bản xa, những buổi cùng người dân lao động đã giúp Linh hiểu rằng kiến thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi được vận dụng để giải quyết những vấn đề cụ thể của cuộc sống. Chính môi trường gian khó ấy cũng giúp đội viên trẻ rèn luyện bản lĩnh, phương pháp công tác và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng.
Hiệu quả từ cách dùng người sát thực tiễn
Nếu Nguyễn Thùy Linh mang kiến thức về tài nguyên, môi trường đến với đồng bào vùng cao thì Triệu Xuân Phát, tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp Việt Nam, lại trở thành “kỹ sư của bản làng” trên những sườn núi đá vôi. Hầu như tuần nào Phát cũng có mặt tại các hộ chăn nuôi trên địa bàn để hướng dẫn bà con cải tạo chuồng trại, dự trữ thức ăn, phòng, chống rét cho gia súc, tiêm phòng dịch bệnh, xử lý vệ sinh môi trường, áp dụng các quy trình chăn nuôi phù hợp với điều kiện thực tế.
Điều đáng quý ở Phát không chỉ là kiến thức chuyên môn mà còn là tinh thần bám cơ sở. Dù mưa rét hay nắng gắt, đường núi hiểm trở hay những bản làng cách xa hàng chục ki-lô-mét đường rừng, người đội viên trẻ vẫn kiên trì đến từng hộ dân, trực tiếp hướng dẫn, “cầm tay chỉ việc”. Sự gần gũi, tận tâm ấy đã giúp nhiều hộ mạnh dạn thay đổi tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, từng bước xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh, biết chủ động phòng, chống dịch bệnh, nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế gia đình.
Từ thực tiễn công tác, chính quyền địa phương đánh giá cao vai trò của đội ngũ TTTTN. Theo đồng chí Lệnh Văn Dự, Phó chủ tịch UBND xã Thanh Thủy, đội viên TTTTN Đoàn KT-QP 313 không chỉ hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật mà còn là lực lượng gắn bó với cơ sở, tích cực tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn an ninh, trật tự, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Sự có mặt thường xuyên của các đội viên ở thôn, bản đã góp phần tăng thêm niềm tin của đồng bào đối với cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang.
Thực tế hoạt động của các đội viên TTTTN ở Đoàn KT-QP 313 cho thấy, việc lựa chọn đúng đối tượng, bố trí đúng chuyên môn đã tạo nên hiệu quả rõ nét. Cùng với cán bộ, nhân viên của Đoàn, đội ngũ TTTTN đã tham gia xây dựng nhiều mô hình phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững... Nhiều đội viên đã trưởng thành nhanh chóng từ thực tiễn, trở thành hạt nhân tích cực trong các phong trào của đơn vị, địa phương.
Từ kết quả đạt được, Đại tá Nông Thanh Dậu, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Đoàn KT-QP 313 khẳng định, đơn vị tiếp tục nâng cao chất lượng tuyển chọn, sử dụng đội ngũ TTTTN theo hướng lấy yêu cầu thực tiễn của địa bàn làm trung tâm. Mỗi đội viên trước khi về cơ sở đều được bồi dưỡng kỹ năng dân vận, phương pháp công tác quần chúng, phân công đúng chuyên môn, sở trường để phát huy tối đa năng lực. Đơn vị cũng tiếp tục ưu tiên những thanh niên là người dân tộc thiểu số, am hiểu phong tục, tiếng nói, có khát vọng cống hiến lâu dài cho quê hương.
Có thể thấy, thành công của Đoàn KT-QP 313 không chỉ nằm ở số lượng đội viên được tuyển chọn hay những mô hình phát triển kinh tế đã triển khai mà còn ở cách làm khoa học, linh hoạt trong phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực trẻ. Khi những TTTTN được đặt đúng vị trí, được rèn luyện trong môi trường thực tiễn, họ sẽ góp phần quan trọng xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc nơi phên giậu của Tổ quốc.