Từ năm 2005 đến nay, Phân viện Qui hoạch đô thị nông thôn miền Nam (QHĐT NTMN) thuộc Bộ Xây dựng, đã tập trung nghiên cứu xây dựng Đồ án quy hoạch vùng Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM). Vùng TP HCM trùng với vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh và 7 tỉnh: Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Bình Dương, Bình Phước, Tiền Giang, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh là hạt nhân. Có ba mô hình phát triển được đề xuất trong quá trình nghiên cứu là: tập trung cao, tập trung đa cực và phân tán.
Phát triển mô hình “tập trung đa cực”
Tại Hội nghị thẩm định, Phân viện QHĐT NTMN và các nhà tư vấn đã chọn mô hình tập trung đa cực. Theo đó, đến năm 2020 và 2050, vùng TPHCM sẽ gồm vùng đô thị trung tâm (bán kính 30km) gồm đô thị hạt nhân TPHCM và các đô thị vệ tinh độc lập. Bao quanh là các vùng đô thị đối trọng kết nối với vùng đô thị trung tâm theo các trục hành lang kinh tế đô thị. Đồ án đưa ra những đề xuất quan trọng: tầm nhìn và mục tiêu chiến lược phát triển vùng, mô hình phát triển vùng và định hướng phát triển không gian của tám tỉnh, thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh sẽ được chia làm ba vùng: vùng trung tâm là trung tâm tài chính thương mại tầm quốc tế; vùng sinh quyển Cần Giờ phát triển du lịch sinh thái và đô thị vệ tinh Hiệp Phước; vùng đô thị vệ tinh tây bắc Củ Chi phát triển công nghiệp, dịch vụ, đào tạo, y tế chuyên môn sâu. Tương tự, các tỉnh, thành phố như Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang cũng được xác định rõ ràng về định hướng phát triển không gian riêng cho địa phương mình trong mối quan hệ chung với cả vùng...
 |
|
Giao lộ trên quốc lộ 1A giữa TP HCM, Bình Dương và Đồng Nai. |
Giáo sư Nguyễn Thế Bá - Chủ tịch Hội Qui hoạch và Phát triển đô thị Việt Nam, đại diện tổ phản biện trong nước-tỏ thái độ đồng tình với nội dung của đồ án, ông cho rằng các đô thị xung quanh đang có xu hướng gắn kết với TP Hồ Chí Minh, tạo thành một khu vực phát triển năng động cực lớn. Tổng diện tích khu vực là 30.000km
2, qui mô dân số gần 15,1 triệu người.
Thiếu sự liên kết vùng?
Phát triển vùng TPHCM đã được đề cập từ nhiều năm, nhưng đa số đại biểu tham dự hội nghị đều khẳng định thiếu liên kết toàn vùng, còn hạn chế trong phạm vi hành chính. Việc bổ sung thuận lợi cho nhau và hạn chế những tác hại lẫn nhau vẫn chưa thành nguyên tắc điều phối vùng. Vùng chưa có công trình hạ tầng đầu mối, nhằm đưa lại hiệu quả, chất lượng cho đầu tư và quản lý môi trường. Cơ cấu của hệ thống các khu công nghiệp (KCN) trong vùng, hiện nay chưa được định hình. Cụ thể là, không có sự phân chia chức năng và xác định vai trò của từng KCN trong hệ thống. Các tỉnh, thành phố trong vùng đều có quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp riêng, nhưng toàn vùng lại thiếu quy hoạch chung, thiếu định hướng của cả vùng. Mỗi tỉnh đều cố gắng thu hút đầu tư theo cách của mình mà chưa quan tâm đến định hướng vùng, ưu tiên vùng. Vì vậy, dẫn đến tình trạng các KCN gần như giống nhau, trong đó chủ yếu phát triển những ngành nghề như giày da, dệt may, chế biến... Chính vì bất cập này mà các địa phương lại rơi vào thế “chèn ép” lẫn nhau, thay vì tương hỗ. Về tổng thể, số KCN của cả vùng vừa thừa, lại vừa thiếu: thừa vì có quá nhiều KCN có tính chất giống nhau, mà thiếu những KCN có chức năng chuyên biệt.
Theo tiến sĩ Nguyễn Bá Ân, Viện phó Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch - Đầu tư) thì, ranh giới hành chính vẫn là trở ngại lớn, gây ra tình trạng chia cắt, không tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu quy hoạch cấp vùng theo một không gian kinh tế thống nhất.
Hiện nay các khu công nghiệp, trung tâm dịch vụ, đào tạo, y tế lớn đều tập trung tại TP Hồ Chí Minh. Sự tập trung này khiến tăng dân số rất nhanh và gây sức ép lên các công trình đầu mối kỹ thuật như các bãi xử lý chất thải rắn dân dụng, chất thải công nghiệp, xử lý nước thải, nghĩa trang, cung cấp năng lượng... Quá tải là tình trạng không tránh khỏi. Thế nhưng, di dời các bệnh viện, trường học lớn ra khỏi thành phố thì riêng TPHCM không làm nổi. Ông Nguyễn Trọng Hòa, Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc TPHCM, đề nghị: “Đồ án nên đề cập thêm vấn đề tương hỗ giữa các địa phương để giúp sức cho TPHCM”. Về tình trạng thiếu liên kết vùng, ông Ngô Quang Hùng, Giám đốc Phân viện QHĐT NTMN, Chủ nhiệm đồ án, cho biết, một loạt cơ sở hạ tầng liên vùng bị thiếu, như: hệ thống đường vành đai liên vùng, hệ thống giao thông công cộng liên vùng, hệ thống đường sắt liên vùng, hệ thống cấp nước liên vùng...
Cần một “nhạc trưởng”
Việc quản lý theo địa bàn hành chính của địa phương đã tạo ra những nguy cơ về môi trường, tài nguyên, cảnh quan... và trùng lắp trong đầu tư, gây lãng phí và hạn chế sự phát triển chung của toàn vùng. Cần phải có một “nhạc trưởng” chuyên trách, nhưng đến nay vẫn chưa có thể chế quản lý và kiểm soát phát triển toàn vùng. Chỉ riêng việc bảo vệ sông Sài Gòn, dù đã cam kết mãi nhưng chẳng địa phương nào chịu hành động, vì thiếu một “đầu tàu”. Ông Nguyễn Thanh Nguyên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Long An nói: “Chúng ta vẫn có ban chỉ đạo quy hoạch vùng, nhưng lại không có ảnh hưởng nhiều do mỗi tỉnh có HĐND, UBND riêng, quyết định nguồn vốn ngân sách riêng. Ít nhất ban chỉ đạo phải có thẩm quyền về tài chính mới thực hiện được nhiệm vụ điều phối chung”. Tương tự, ông Trần Ngọc Thới, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phát biểu: “Luôn có sự khác biệt giữa đồ án quy hoạch và thực tế nên cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ, phân công hợp lý giữa các tỉnh, thành phố trong vùng tùy theo tiềm năng”.
Ông Nguyễn Đăng Sơn, Viện phó Viện Nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng cho biết, mô hình vùng đô thị đã được nhiều nước trên thế giới làm. Như vùng Pa-ri (Pháp) được lãnh đạo bởi hội đồng thị trưởng các đơn vị thành viên. Theo ông, mỗi vùng đô thị Việt Nam sẽ có hội đồng những nhà lãnh đạo đứng đầu các đơn vị trong vùng, nhưng do một Phó Thủ tướng chủ trì cùng một số thành viên từ Trung ương như Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông - Vận tải v.v..
Tiến sĩ Ian Green (Anh), chuyên gia phản biện độc lập, nêu quan điểm: “Đồ án này rất tốt và phù hợp với các địa phương có liên quan. Tuy nhiên, đồ án chưa xem xét đến nguồn lực tài chính, cũng như thể chế, nguồn nhân lực để thực hiện quy hoạch nên chúng tôi chưa thể xác định được hiệu quả của đồ án. Đồ án cần xác định sự chênh lệch tài chính giữa ngân sách quốc gia và chi phí thực hiện đồ án để huy động các nguồn vốn khác. Đặc biệt, đồ án quy hoạch phải thường xuyên cải tiến, cập nhật nên cần phải có một cơ quan điều phối chung. Ngoài ra, cũng nên quan tâm hơn đến những vấn đề như giảm nghèo, phát triển công bằng, phân tích rõ hơn những rủi ro có thể xảy ra...”.
Theo Phân viện QHĐT NTMN, vùng TPHCM phải thật sự là vùng kinh tế động lực hàng đầu của cả nước; là trung tâm dịch vụ, thương mại, tài chính, công nghiệp công nghệ cao... mang tầm quốc tế. Tuy nhiên, theo chúng tôi, đơn vị tư vấn và các cơ quan chức năng cần làm rõ một số vấn đề như cơ chế hoạt động của vùng, cơ chế quản lý và huy động các nguồn vốn để triển khai đồ án, kiến nghị điều chỉnh một số chi tiết quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông để kết nối các địa phương trong vùng, tạo thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới giao thông trong vùng đến các nơi khác… Bộ Xây dựng cần sớm hoàn chỉnh quy hoạch vùng TPHCM để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đưa đồ án vào cuộc sống, để có sự phân công phù hợp cho mỗi địa phương, nhằm tạo ra bức tranh chung của cả vùng, tận dụng thế mạnh, tránh phát triển tự phát, phân tán.
Bài và ảnh: ĐOÀN HOÀI TRUNG