 |
|
Thợ đi xuất khẩu lao động cần được đào tạo chính quy
Ảnh: Thu Hương |
Theo kế hoạch năm 2008, Cục Quản lý lao động Ngoài nước thuộc Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội sẽ đưa khoảng 85.000 người đi lao động tại nước ngoài, tập trung vào một số thị trường chủ lực như Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Đông... Tuy nhiên chất lượng người lao động đang là những rào cản lớn nhất trong quá trình tiếp cận những thị trường cao cấp.
Ông Đào Công Hải- Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết năm 2007, cả nước đã đưa được hơn 85 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài, vượt 6,3% so với kế hoạch đề ra và tăng 7,8% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, dù xuất khẩu lao động đã tăng về quy mô nhưng lại chỉ tập trung được ở những thị trường với mức thu nhập xóa đói giảm nghèo, còn những thị trường có thu nhập cao và đang cần lao động nước ngoài thì lao động Việt Nam vẫn rất khó tiếp cận. Hiện nay, tổng số lao động Việt Nam đang làm việc có thời hạn tại nước ngoài là 500.000 người. Tuy nhiên chất lượng nguồn lao động không đáp ứng được yêu cầu đang là rào cản lớn nhất trong việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là lao động có tay nghề.
Lao động xuất khẩu Việt Nam vốn xuất thân từ nông thôn, chủ yếu không nghề, không ngoại ngữ, không tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật kém, thường gọi là “3 không” rất khó được tuyển chọn và thu nhập thấp. Trong khi đó, tại các thị trường lao động ngoài nước, nhu cầu lao động có tay nghề rất lớn. Đài Loan, Ma-lay-si-a rất cần lao động có nghề trong các nhà máy, công xưởng, khu công nghệ cao. Nhật Bản, Hàn Quốc cần những chuyên gia, lao động kỹ thuật. Những thị trường như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Xin-ga-po được coi là thị trường cao nhất kể cả về thu nhập và điều kiện nhập cảnh. Trình độ kiến thức, kỹ năng nghề không phải chỉ căn cứ vào bằng cấp, chứng chỉ của các cơ sở đào tạo trong nước mà phải được xác định thông qua tuyển lựa, kiểm tra, đánh giá của phía đối tác nước ngoài, quan trọng hơn, nó phải được thể hiện trong năng lực làm việc thực sự của người lao động có đáp ứng được đòi hỏi của công nghệ sản xuất, độ phức tạp của công việc mà họ đảm nhiệm ở nước ngoài. Đã có nhiều lao động Việt Nam được coi là có nghề xây, trát và họ cũng đã làm việc đó trên công trường. Nhưng khi người nước ngoài tuyển chọn thì không đạt yêu cầu vì họ chưa thực hiện được những thao tác rất cơ bản của nghề, họ không được đào tạo cơ bản. Lại có một trường hợp khác, gần một trăm học sinh đã tốt nghiệp nghề hàn ở một trường cao đẳng nhưng chuyên gia nước ngoài chỉ lựa chọn được 5 người có thể bồi dưỡng thêm để làm hàn kỹ thuật cao theo yêu cầu công việc của đơn vị họ. Như vậy, thị trường lao động quốc tế đòi hỏi lao động được đào tạo cơ bản và chuyên sâu, đặc biệt là phải phù hợp với công nghệ sản xuất cụ thể. Muốn có một tấm visa vào những thị trường đòi hỏi chất lượng cao, có trình độ chuyên môn, người lao động phải có kỹ năng nghề cao, kinh nghiệm làm việc thực tế và phải đạt trình độ tiếng Anh 4.5 điểm IELTS trở lên…
Đã đến lúc, các cơ quan chức năng phải thực sự có những chiến lược hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng người lao động. Đó chính là chìa khóa để mở cánh cửa ở những thị trường cao cấp. Điểm nhấn và là nhiệm trọng tâm của năm 2008 mà Cục Quản lý lao động ngoài nước cần thực hiện tốt là phải nâng cao chất lượng nguồn lao động, nâng cao tỷ lệ lao động có tay nghề. Muốn vậy, Cục cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có liên quan, xây dựng kế hoạch và biện pháp cụ thể, sát thực ngay từ đầu năm…
Chất lượng nguồn lao động là một trong những yếu tố quan trọng nhất cho sự thắng thế trong cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế. Muốn mở rộng việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn cho lao động Việt Nam ở nước ngoài, không có cách nào hữu hiệu bằng nâng cao chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Và sự cần thiết và lợi ích của việc gắn kết giữa "nhà tuyển dụng" (doanh nghiệp xuất khẩu lao động) và "nhà trường" (cơ sở dạy nghề) trong việc chuẩn bị nguồn lao động có trình độ kỹ năng nghề và ngoại ngữ cho thị trường ngoài nước. Tuy nhiên, sự gắn kết này chỉ thực sự có hiệu quả, bền vững và thực sự tháo gỡ khó khăn cho người lao động, nhất là về kinh phí học nghề, ngoại ngữ, vốn vay để trang trải các chi phí xuất cảnh khi có sự vào cuộc đồng bộ của "nhà nước" (cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề và về xuất khẩu lao động). Vai trò "nhà nước" ở đây chính là "bà đỡ" tạo cơ chế và theo dõi, chỉ đạo sự gắn kết đó đi đúng hướng, hiệu quả. Đây cũng chính là sự đầu tư cần thiết và hiệu quả của nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực và đem lại lợi ích to lớn nhiều mặt của xuất khẩu lao động cho xã hội./.
Thu Hương