Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, khi những nhân chứng cuối cùng đều đã bước sang tuổi xưa nay hiếm, mỗi lời kể của họ đều có thể trở thành một đầu mối quý giá trên hành trình đưa những người lính còn nằm lại ở Mai Xá trở về với gia đình và đồng đội.
Ký ức của những người từng chôn cất đồng đội
Trong ký ức của Đại tá Trần Văn Thà, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 47 (Trung đoàn 270), làng Mai Xá là nơi ông và đồng đội đón Giao thừa Tết Mậu Thân 1968 giữa khói lửa chiến tranh. Đêm cuối năm ấy vẫn có bánh tét, chút thịt, ấm trà nóng, nhưng thay cho tiếng pháo mừng xuân là tiếng đạn pháo và bom địch giội xuống không ngớt. Ông cũng không quên hình ảnh mẹ Nậy, người phụ nữ Mai Xá nhất quyết cho bộ đội tháo dỡ ngôi nhà của mình để dựng hầm nấu cơm. Không chỉ chở che, nuôi giấu cán bộ, mẹ còn chỉ cho bộ đội những lòi đất nhô ra ven bến đò, nơi có thể bí mật áp sát dòng sông để dùng B41 và ĐKZ bắn tàu địch ở cự ly gần. Từ những vị trí ấy, nhiều chuyến tàu tiếp tế của đối phương đã bị bắn cháy.
Cũng ở làng Mai Xá và Lâm Xuân, ông và cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị chôn cất, an táng hai phóng viên Báo Quân đội nhân dân là đồng chí Lê Đình Dư và đồng chí Nguyễn Ngọc Nhu đã hy sinh. Sau khi nghỉ hưu, Đại tá Trần Văn Thà đã nhiều lần trở lại chiến trường xưa, tìm kiếm và cất bốc được nhiều hài cốt đồng đội đã hy sinh, trong đó có hai nhà báo Quân đội.
 |
| Ông Trương Quang Chương (bên trái) và ông Bùi Văn Thanh, những nhân chứng ở thôn Mai Xá. Ảnh: TUẤN HOÀNG |
Một trong những cựu chiến binh của làng Mai Xá, ông Trương Quang Chương, tham gia cách mạng từ năm 21 tuổi, nay vui vầy bên con cháu ở độ ngoài bát tuần nhưng vẫn còn minh mẫn. Mỗi sáng, ông Chương và ông Bùi Văn Thanh, người được xem là “pho sử của làng” pha ấm chè xanh ngồi trên hiên nhà, trước mặt là cánh đồng rộng, nơi ngày xưa từng là chiến địa, ôn chuyện cũ. Ông Chương từng là bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị, được điều động về giữ chức vụ Xã đội trưởng xã Hải Trường, thuộc huyện Hải Lăng (cũ). Hết chiến tranh, ông công tác tại Ban CHQS huyện Hải Lăng, rồi nghỉ hưu.
Ông Chương nhấp ngụm trà đặc, đôi mắt nhìn xa xăm rồi cất giọng chắc nịch: Trong quãng đời quân ngũ đã chứng kiến không biết bao nhiêu lần đồng đội bị thương, bị bắt và hy sinh. Đặc biệt, tại Hải Lâm, Hải Trường, Diên Sanh (thuộc huyện Hải Lăng cũ)-những nơi được ví như “cối xay thịt”, ông Chương nhớ lại, có 3 đồng đội, quê ở Vĩnh Phú (cũ), Hải Phòng và Hà Nội, đã anh dũng hy sinh trong năm 1971. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, hài cốt của các anh vẫn chưa được tìm thấy.
Ông Chương trầm giọng kể, sau trận đánh, người hy sinh, người bị thương, số còn lại bị địch bắt, đơn vị đã rút, gần như không còn ai đủ điều kiện quay lại mai táng hay đánh dấu vị trí đồng đội hy sinh. Trong đó, ông nhớ có hai người là anh Ry (quê Hà Nội) và anh Sáu (quê Hải Phòng). Những người đứng ra mai táng các liệt sĩ khi ấy là bà con địa phương. Giữa khói lửa chiến tranh, họ chỉ biết đó là bộ đội giải phóng chứ không biết tên tuổi hay quê quán từng người. Chính vì vậy, đến hôm nay, hành trình tìm lại các anh chỉ có thể dựa vào nguồn tin trong nhân dân. Điều khiến ông Chương khắc khoải khôn nguôi sau hơn nửa thế kỷ không chỉ là những trận đánh khốc liệt, mà là ký ức về những người anh em trong cùng một gia đình, cùng đơn vị, phải tự tay chôn cất nhau giữa chiến trường. Ông nhắc mãi trường hợp hai anh em ruột Niên và Cánh, quê vùng Cùa (xã Cam Chính, huyện Cam Lộ cũ). Trong trận đánh, người anh hy sinh, người em nghẹn ngào mai táng anh ngay tại chỗ. Một trường hợp khác là hai anh em họ tên Chơn và Học (xã Trung Hải, huyện Gio Linh cũ), số phận cũng nghiệt ngã như vậy, người anh ngã xuống, người em lặng lẽ vun nắm đất cuối cùng cho anh giữa mưa bom, rồi tiếp tục chiến đấu. Chiến tranh kết thúc, những người em ấy trở về mang theo ký ức không thể nguôi. Thế nhưng, do chiến trường bị cày xới nhiều lần, dấu tích mộ chí dần mất đi theo năm tháng. Đến nay, hài cốt của những người anh vẫn chưa được tìm thấy. Những nấm mộ vô danh còn nằm đâu đó trong trí nhớ, để lại nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng những người còn sống.
Mộ liệt sĩ nằm trong nghĩa địa
Ông Bùi Văn Thanh ngồi lặng lẽ dõi theo cuộc trò chuyện của chúng tôi với cựu chiến binh Trương Quang Chương. Dù không trực tiếp tham gia chiến đấu, nhưng dấu ấn hằn sâu nhất trong ký ức tuổi thơ của ông Thanh là buổi trưa định mệnh ngày 20-12-1967, khi ông mới 12 tuổi. Ngay tại ngôi nhà của người bác ruột, cậu bé Thanh lần đầu chứng kiến một trận đấu trí, đấu súng khốc liệt giữa bộ đội ta và quân giặc.
 |
|
Ông Trương Quang Chương (bên phải) cung cấp thông tin cho phóng viên. Ảnh: TRƯƠNG KHẮC
|
Một đơn vị bộ đội ta quần nhau với lực lượng địch đông hơn hẳn suốt từ sáng đến quá trưa. Hỏa lực từ trực thăng địch chi viện gây thiệt hại lớn, đồng thời đổ quân ào ạt bao vây làng. Một nhóm bộ đội rút vào căn hầm trú ẩn khá lớn tại nhà bác ruột của ông Thanh cùng với khoảng 20 dân thường, có trẻ em. Trong đó có hai chú bộ đội được bác của ông Thanh lấy lúa vùi lại trong chiếc bồ lúa ở trong hầm, địch lùng sục bên ngoài không tìm thấy, điên cuồng xả mấy loạt đạn khiến nhiều dân thường xung quanh ngã xuống. Khi địch mò đến, chú bé Thanh và một người bạn là Trương Quang Bòng (nay đã mất) đứng ngay cửa hầm bỗng nhiên òa khóc rất to, mật báo cho người ẩn nấp biết, đáp lại, một bàn tay trong bồ lúa giơ qua cái lỗ ra hiệu “im lặng”. Rồi, một trái lựu đạn vọt ra từ bồ lúa lao thẳng vào đám lính ngụy, nổ tung, hạ được 6-7 tên địch. Một chú bộ đội vọt ra cửa hầm đằng sau chạy thoát. Quân giặc cay cú, chúng huy động toàn bộ lực lượng bao vây ngôi nhà, đồng thời chĩa súng bắt bác ruột ông Thanh làm con tin che đạn để tấn công vào bên trong. Thấy vậy, dân làng phản ứng dữ dội. Ông Thanh kể, địch bắt bác ông Thanh tự tay phóng hỏa ngôi nhà để tiêu diệt. Căn nhà tranh tre bốc cháy phủ lên căn hầm, hơi nóng và khói khiến chú bộ đội còn ẩn nấp bên trong phải thoát ra phía cửa sau và bị phục kích bắt sống. Bọn địch đưa chiến sĩ ấy đến bên bờ tre cách căn hầm khoảng 200m. Chú bé Thanh chỉ nghe vang lên tiếng hô to của chú bộ đội: “Hồ Chí Minh muôn năm!..”. Liền sau đó, mấy loạt đạn AR-15 lạnh lùng vang lên lúc trời chiều đã chạng vạng, sông Cánh Hòm nước đỏ như máu, lặng lờ dồn nước ra Cửa Việt. Địch rút đi, dân làng gom thi hài 10 chú bộ đội. Toàn người miền Bắc. Tất cả di vật, thông tin quê quán, đơn vị được dân làng cẩn thận thu gom và mai táng ở bìa làng, giữa một ruộng lạc. Một số bộ đội có đầy đủ thông tin ghi trên mảnh giấy cho vào vỏ chai thuốc kháng sinh penicillin. Đến khoảng những năm 1990-1995 có đợt cất bốc, quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Gio Mai cũ (nay là xã Cửa Việt). Tuy nhiên vẫn có một số bị thất lạc thông tin.
Lần ngược về ký ức, ông Thanh nhắc đến một trường hợp không nhớ tên mà ông day dứt suốt nhiều năm: Trong kháng chiến chống Pháp, một cánh quân ta rút lui sau khi Mặt trận Quảng Trị bị vỡ, một chiến sĩ “Nam tiến” quê Nam Định (nay là Ninh Bình) bị thương và đã được che giấu trong hầm tại nhà một người dân, địch phát hiện và truy tìm, khiến người chiến sĩ này phải gắng sức bò đi, bị trúng đạn và hy sinh tại bờ tre trong vườn nhà bà Bùi Thị Cháu (năm nay 90 tuổi), thôn Mai Đông (xã Gio Mai cũ). Dân làng đã bí mật mai táng liệt sĩ, gìn giữ phần mộ qua nhiều năm. Ông Nguyễn Viết Vũ, một người dân trong làng đã nhiều năm liền lặng lẽ hương khói, chăm sóc ngôi mộ như người thân của mình, nay đã khuất núi. Do không xác định được đầy đủ danh tính và lai lịch của liệt sĩ, ngôi mộ đến nay vẫn chưa được quy tập theo diện mộ liệt sĩ chưa biết tên. Dân làng Mai Xá chỉ có thể đưa phần mộ vào khu nghĩa địa của thôn. Đến nay, chỉ còn lại duy nhất bà Bùi Thị Cháu, trước đây là du kích địa phương, từng bị địch bắt, là nhân chứng trực tiếp còn nắm giữ những mảnh ký ức về người chiến sĩ “Nam tiến” năm ấy. Nếu được đối chiếu với hồ sơ và các nguồn tư liệu, lời kể của bà có thể trở thành đầu mối quan trọng, góp phần xác minh danh tính và đưa liệt sĩ trở về sau hơn 70 năm nằm lại trên mảnh đất Quảng Trị đau thương mà anh dũng.
Theo hồi ức của Đại tá Trần Văn Thà, từ cuối tháng 1 đến đầu tháng 5-1968, Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 270 đã bám trụ suốt hơn 100 ngày đêm trên tuyến Mai Xá-Cửa Việt, liên tiếp đánh chặn các cuộc càn quét và tuyến tiếp tế của Mỹ-ngụy. Chỉ trong những ngày đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn 47 đã đánh chìm, bắn cháy nhiều tàu vận tải, tàu hộ tống, xe tăng, thiết giáp và máy bay của đối phương, nhưng cũng phải chịu tổn thất nặng nề với hàng chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh, hơn 70 người bị thương. Sau một cuộc họp thống nhất rút quân, Tiểu đoàn trưởng Trần Văn Thà đã kêu gọi đồng đội quay trở lại chiến đấu. Hơn 100 cán bộ, chiến sĩ tình nguyện ở lại giữ trận địa bên bờ sông Cửa Việt. Trong những tháng tiếp theo, đơn vị tiếp tục phục kích bộ binh, đánh tàu trên sông, tập kích kho hậu cần Cửa Việt và nhiều lần đẩy lùi các cuộc tiến công quy mô lớn của Mỹ-ngụy. Kết thúc đợt chiến đấu đầu tháng 5-1968, Tiểu đoàn 47 hoàn thành nhiệm vụ, nhưng nhiều cán bộ, chiến sĩ đã mãi mãi nằm lại trên mảnh đất Mai Xá và vùng phụ cận.
Câu chuyện của chúng tôi cứ miên man cho đến khi ánh nắng nhàn nhạt rót xuống mái ngói cũ, trườn theo những bậc thềm đã mòn dấu thời gian. Giàn hoa giấy trước cổng vẫn đỏ rực, những cánh hoa mỏng manh rung lên trước từng cơn gió Lào bỏng rát, mềm mại mà bền bỉ như chính con người vùng đất này. Ở Mai Xá có những con đường trải nhựa rất đẹp gắn biển ghi “Hội cựu quân nhân đóng góp, xây dựng”. Những người lính đã hy sinh, đổ máu trên đất này hay những người lính may mắn trở về sau chiến tranh lại góp công, góp của làm đường, xây nhà cho mẹ liệt sĩ, người nghèo, người tàn tật không nơi tựa như thế, chúng ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên đất nước mình.
(còn nữa)