Trong giai đoạn hiện nay, với độ mở của nền kinh tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng bức thiết, trong đó lực lượng lao động có kỹ năng nghề đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

 Chuẩn hóa lực lượng lao động có kỹ năng nghề

 Theo số liệu của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (GDNN), Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, hiện nước ta có khoảng 2.000 cơ sở GDNN. Tuy nhiên, về quy mô, cơ cấu và chất lượng nhân lực có kỹ năng nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trong xu hướng tự động hóa, số hóa, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế. Mặc dù nước ta có lực lượng lao động tương đối đông (khoảng 56 triệu người từ 15 tuổi trở lên trong độ tuổi lao động), nhưng chỉ có khoảng 1/5 (hơn 22%) được đào tạo có văn bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên, còn lại phần lớn là chưa qua đào tạo. Trong khi đó, thế mạnh về nhân công giá rẻ đã không còn phù hợp với nền kinh tế số, kinh tế tri thức trong giai đoạn phát triển mới.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của GDNN và nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 28-5-2020 về đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia trong tình hình mới. Chỉ thị đặt mục tiêu theo lộ trình đến năm 2030, GDNN Việt Nam tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4, đến năm 2045 tiếp cận trình độ các nước G20.

Sinh viên Trường Cao đẳng Cơ khí Nông nghiệp (Vĩnh Phúc) trong giờ học thực hành. Ảnh: ANH TUẤN

Từ thực tiễn về năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia đặt ra vấn đề cần nhanh chóng nâng cao chất lượng GDNN, từ chất lượng đào tạo của các trường nghề, đến cần phải đào tạo những ngành nghề mới. Ông Trần Thiên Long, Phó chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội các doanh nghiệp (DN) khu công nghiệp TP Hồ Chí Minh (HBA) cho rằng, để nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với yêu cầu mới thì các trường nghề cần liên kết với DN để DN cùng tham gia vào quá trình đào tạo; từ việc DN tham gia xây dựng chương trình đào tạo đến giảng dạy, truyền đạt tri thức, kinh nghiệm. Người học được đào tạo kết hợp, có sự tương tác giữa nhà máy-nhà trường, được nghe và trực tiếp trải nghiệm thực tiễn nhà máy, xưởng sản xuất để vừa học được kiến thức chuyên môn, vừa tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.

Ông Trần Thiên Long nhấn mạnh, với yêu cầu ngày càng cao của các nhà tuyển dụng, DN than phiền rất nhiều về các kỹ năng của lao động mới tuyển dụng. Do đó, bên cạnh những kỹ năng chuyên môn, các cơ sở GDNN cần đẩy mạnh đào tạo kỹ năng, xây dựng chương trình thực tiễn hơn, tăng cường đào tạo ngoại ngữ, đào tạo kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp cho học viên.

Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, quá trình dịch chuyển lao động từ các nước trong khu vực đang diễn ra khá phổ biến. Bởi vậy, chuẩn hóa lực lượng lao động có kỹ năng nghề để hội nhập quốc tế là yêu cầu tất yếu. Ông Trương Anh Dũng, Tổng cục trưởng Tổng cục GDNN cho biết, để chuẩn hóa lực lượng lao động thì các ngành nghề bắt buộc phải sử dụng lao động có chứng chỉ bằng cấp qua hệ thống GDNN, hoặc chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Mặt khác, cơ sở GDNN cũng phải chuẩn hóa với yêu cầu phát triển của thị trường lao động trong nước và hướng tới thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, các cơ sở GDNN phải được sắp xếp lại theo hướng chuẩn hóa về chất lượng, đặc biệt là chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo, người làm công tác quản lý đào tạo, chuẩn về cơ sở vật chất và định mức kinh tế kỹ thuật. Trong thời gian qua, Tổng cục GDNN đã xây dựng được gần 300 bộ tiêu chuẩn về định mức kinh tế kỹ thuật và tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cơ sở đào tạo. Xây dựng hệ thống quản lý đánh giá kỹ năng nghề; rà soát, bổ sung các danh mục ngành nghề mà hiện nay còn thiếu so với thị trường lao động. Những bộ tiêu chuẩn này có sự tham gia của DN, vì chính họ hiểu rõ hơn ai hết những yêu cầu về vị trí việc làm, về tiêu chuẩn đào tạo.

“Tiếng nói chung" của "3 nhà”

Qua khảo sát tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương..., các địa phương này đều có định hướng chuyển đổi các khu chế xuất, khu công nghiệp sang sử dụng công nghệ cao; thúc đẩy mạnh mẽ chuyển hướng sang quy trình tự động hóa thông minh. Ngoài ra, nhiều khu công nghiệp lựa chọn thu hút các dự án có hàm lượng khoa học, công nghệ với giá trị thương mại rất cao. Các DN tại đây vẫn quan tâm ưu tiên hàng đầu cho nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng các ngành nghề được đầu tư bài bản và bảo đảm sự phát triển của DN. Vì vậy, sinh viên trường nghề buộc phải nỗ lực rất lớn để đạt trình độ chuyên môn tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu các DN công nghệ cao.

Nhìn từ góc độ quản lý, phát triển GDNN không chỉ đơn thuần là trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho người học, quan trọng hơn là vấn đề năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của DN và của mỗi quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều rất quan tâm đến đào tạo lao động có kỹ năng nghề. Ông Phạm Tất Thắng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho rằng, để GDNN có hiệu quả thì phải gắn kết được chặt chẽ "3 nhà" (nhà nước, nhà trường, nhà DN). Nhà trường sẽ nhận đặt hàng từ xã hội, từ nhà nước, từ DN để đào tạo lao động có tay nghề và DN vừa là người sử dụng lao động vừa là người đặt hàng đối với các cơ sở GDNN.

Ông Phạm Tất Thắng nhấn mạnh: Trong kinh tế thị trường thì đây là câu chuyện lợi ích chung. "Nhà" nào cũng sẽ phải tạo ra được lợi ích thì mối liên kết mới bền chặt; trong đó vai trò của nhà nước là đặc biệt quan trọng. Nhà nước sẽ là kênh đặt hàng, tạo ra cơ chế, chính sách để hệ thống GDNN hoạt động và phát triển; tạo ra nhu cầu sử dụng lao động và sẽ thúc đẩy các DN phát triển. Do đó, các cơ sở GDNN, các DN rất kỳ vọng vào chỉ thị của Thủ tướng sẽ là đòn bẩy, tạo ra các cơ chế chính sách, những động lực để các bên tham gia vào chuỗi cung ứng lao động đều có lợi; qua đó nâng cao được hiệu quả hoạt động, đóng góp trở lại cho sự phát triển của nền kinh tế, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Khi cơ chế, chính sách của Nhà nước về phát triển GDNN, nâng cao chất lượng lao động có kỹ năng nghề được ban hành tương đối đồng bộ thì câu chuyện được quan tâm là mối liên kết giữa nhà trường và DN. Qua tìm hiểu tại Trường Cao đẳng Viễn Đông, đơn vị này có nhiều cách làm tương đối hiệu quả để kết nối nhà trường-DN, đặt người học vào vị trí trung tâm và là chủ thể của quá trình đào tạo.

Trường Cao đẳng Viễn Đông nằm trong Khu công viên phần mềm Quang Trung, TP Hồ Chí Minh, là một trong những cơ sở đào tạo được xác định đi đầu cả nước trong ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ 4.0. Theo ông Trần Thanh Hải, Hiệu trưởng nhà trường, sinh viên của trường học các khối ngành công nghệ, chăm sóc sức khỏe, các ngành kỹ thuật, gần như 100% sinh viên sau khi ra trường đều có việc làm ngay. Đặc biệt là khoảng 50% sinh viên học ngành công nghệ thông tin, từ cuối năm thứ hai đã là lao động bán thời gian ở các DN trong Khu công viên phần mềm Quang Trung.

Ông Trần Thanh Hải cũng nhấn mạnh, để tìm được “tiếng nói chung” giữa nhà trường và DN thì nhà trường cần phát huy kênh thông tin của các cựu sinh viên đang làm việc tại các DN. Họ phản ánh thực chất về nội dung, chất lượng chương trình đã học và khi làm việc tại DN sẽ được đào tạo lại, đào tạo bổ sung những kiến thức, kỹ năng gì? Từ đó, nhà trường kịp thời điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của DN. Bên cạnh đó, ngoài đội ngũ giáo viên hàn lâm, nhà trường còn mời giảng viên là các nhà quản trị, kỹ thuật viên ở các DN khởi nghiệp. Chính họ khi tham gia giảng dạy sẽ mang những yêu cầu của DN đưa vào chương trình đào tạo của nhà trường.

Đây là cách làm mang lại hiệu quả, lợi ích cho cả nhà trường, DN và rất đáng được các cơ sở GDNN áp dụng. Mối quan hệ tương tác hai chiều giúp cho DN có được đội ngũ lao động chuẩn, tiết kiệm được chi phí đào tạo lại hay đào tạo bổ sung. Sinh viên có việc làm ngay khi ra trường và qua đó, nhà trường từng bước xây dựng được thương hiệu, thu hút được nhiều người học.

MINH MẠNH