Theo Công an TP Hà Nội, số bị hại đã được xác minh, chứng minh trong các vụ án lừa đảo sở hữu kỳ nghỉ hiện mới chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với thực tế và đề nghị những người bị hại hoặc nghi ngờ mình là bị hại chủ động gửi đơn trình báo đến cơ quan công an để phục vụ công tác điều tra.

Các tài liệu cần cung cấp có thể là hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, hợp đồng đặt cọc, hợp đồng góp vốn, phụ lục hợp đồng, thỏa thuận nâng hạn mức, nâng gói nghỉ dưỡng, phiếu thu, chứng từ thanh toán, thông tin của công ty kinh doanh kỳ nghỉ, thông tin của người môi giới và các tài liệu khác có liên quan. Cùng với chuẩn bị hồ sơ, người dân cần làm đơn trình báo nêu rõ quá trình tham gia, việc ký kết hợp đồng, phương thức thanh toán cũng như các nội dung quảng cáo, giới thiệu hoặc cam kết đã được đưa ra trước thời điểm khách hàng quyết định nộp tiền.

Cơ quan chức năng lấy lời khai với bị can Hoàng Nhất Long, Giám đốc Công ty Sunland Travel. Ảnh do công an cung cấp 

Nếu cơ quan điều tra xác định khách hàng bị lừa dối, các đối tượng bán kỳ nghỉ đã sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm khiến khách hàng ký hợp đồng để chiếm đoạt tài sản thì những người này sẽ được xác định là bị hại và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người bị hại theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, theo Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự, người dân được thực hiện nhiều quyền tố tụng quan trọng như cung cấp chứng cứ, tài liệu; đề nghị giám định, định giá tài sản; được thông báo kết quả điều tra; tham gia phiên tòa; yêu cầu bồi thường thiệt hại; kháng cáo bản án, quyết định của tòa án và các quyền khác theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp các bị can hoặc người thân của bị can tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và hoàn trả tiền cho khách hàng, người bị hại có thể nhận lại tài sản ngay trong quá trình giải quyết vụ án. Trường hợp chưa nhận được, người mua kỳ nghỉ cần liên hệ với cơ quan tiến hành tố tụng hoặc nhờ sự hỗ trợ của các tổ chức hành nghề luật sư để cung cấp chứng cứ, trình bày sự việc và đề nghị được tham gia vụ án với tư cách bị hại hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, không phải hợp đồng mua bán kỳ nghỉ nào cũng là lừa đảo, không phải người mua trong trường hợp nào cũng là người bị hại. Người dân cần lưu ý, trong trường hợp các giao dịch về thuê phòng khách sạn dài hạn, thuê dịch vụ lưu trú dài hạn, hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ mà đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực pháp luật của giao dịch dân sự, không phát hiện ra dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người mua hợp đồng sẽ không được xác định là người bị hại, quan hệ giữa các bên là quan hệ dân sự. Theo nguyên tắc chung, nếu giao dịch hợp pháp thì khoản tiền đã thanh toán cho doanh nghiệp sẽ không thể đòi lại, trừ trường hợp các bên tự nguyện thỏa thuận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc thuộc trường hợp cơ quan chức năng xác định hợp đồng đó là trái pháp luật, có dấu hiệu vi phạm pháp luật của phía doanh nghiệp.

Đối với trường hợp hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, nếu hợp đồng hợp pháp hoặc chưa bị cơ quan chức năng xác định là bất hợp pháp, khách hàng có thể trực tiếp làm việc với người môi giới hoặc đại diện của doanh nghiệp đã ký hợp đồng để đề nghị thanh lý hợp đồng trước hạn. Trong trường hợp doanh nghiệp đang bị điều tra hoặc cơ quan chức năng triệu tập, phát hiện sai phạm và nhận thức rõ vi phạm, muốn khắc phục hậu quả, giảm bớt trách nhiệm pháp lý thì doanh nghiệp có thể đồng ý thanh lý hợp đồng để hoàn tiền cho khách hàng. Trong trường hợp này, khách hàng có thể lấy lại được một phần hoặc toàn bộ tiền mà không phải chờ kết quả giải quyết vụ án hình sự.

Trường hợp thứ hai là khách hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng và đề nghị tòa án giải quyết theo tố tụng dân sự. Trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chưa đủ cơ sở để xác định lừa đảo, hành vi của công ty bán kỳ nghỉ không cấu thành tội phạm nhưng có căn cứ cho thấy các hợp đồng này vô hiệu do bị lừa dối, nhầm lẫn hoặc do đối tượng của hợp đồng không thực hiện được, do chủ thể không có quyền giao kết hợp đồng thì khách hàng cũng có quyền khởi kiện đến tòa án để được tòa án xem xét tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là buộc doanh nghiệp phải trả lại tiền. Trường hợp quá trình xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng mà cơ quan điều tra xác định vụ việc là quan hệ dân sự nhưng giao dịch dân sự này vô hiệu do đối tượng của hợp đồng không thực hiện được (dự án chưa thể khai thác, không đủ điều kiện để khai thác, chưa đủ điều kiện để huy động vốn) hoặc trường hợp chủ thể giao kết hợp đồng không có quyền giao kết hợp đồng hoặc trường hợp người giao kết hợp đồng bị lừa dối hoặc bị nhầm lẫn thì tòa án sẽ tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là buộc doanh nghiệp phải trả lại toàn bộ số tiền cho khách hàng.

Trường hợp nữa là bị hại được hoàn tiền trong vụ án hình sự khi cơ quan tố tụng xác định đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự hiện hành. Người bị hại trong trường hợp này có quyền yêu cầu người phạm tội phải bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả hoặc đề nghị cơ quan chức năng kê biên, phong tỏa tài sản để thu hồi tài sản do phạm tội mà có, hoàn trả cho người bị hại.