Khó như vậy nhưng chúng ta vẫn có “Phùng Vương” của Phùng Văn Khai, “Sương mù tháng giêng” của Uông Triều, “Trần Khánh Dư” của Lưu Sơn Minh… và mới đây nhất là tập truyện ngắn “Con chim phụng cuối cùng” của Nguyễn Thị Kim Hòa. Một tín hiệu đáng mừng của nền văn học nước nhà, nó chứng tỏ những cây bút đóng vai trò trụ cột trên văn đàn trong tương lai không xa đã có sự đầu tư nghiêm túc với tham vọng đi xa hơn hoặc chí ít cũng là “vượt lên chính mình”.

Như đã nói, viết về lịch sử khó đủ đường, nhưng dường như tác giả đã tìm ra được “công thức” của riêng mình, công thức đưa chị đến với giải nhất cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội năm 2013-2014, tái hiện thân phận người phụ nữ trong những thời khắc tao loạn của lịch sử. Chín truyện ngắn là chín mảnh đời, chín kiếp người “bảy nổi ba chìm với nước non” mà từ "nước non" được dùng với nghĩa bóng, rộng nhất. Từ cuộc đời của những nhân vật có thật, lưu trong sử sách như Tuyên phi Đặng Thị Huệ, nữ tướng Bùi Thị Xuân, Thái phi Tống Thị Quyên, vợ thái tử Nguyễn Phúc Cảnh hay những nhân vật hư cấu hoàn toàn như cô gái thường dân bán rượu bên bờ sông Thiên Mạc… tất cả dù cam tâm tình nguyện hay bị ép buộc, từ người chủ động dấn thân đến bị động chịu sự sắp đặt của người khác đều gắn chặt với những sự biến ảnh hưởng đến sinh mạng của hàng vạn con người như thay vua, đổi chúa, nội chiến thâm cung, chiến tranh chống xâm lược, chinh phạt mở rộng bờ cõi… Phụ nữ trong thời đại phong kiến vốn đã chịu nhiều bó buộc, khổ sở huống hồ là trong những cơn biến thiên ghê gớm ấy. Các nhân vật nữ của Nguyễn Thị Kim Hòa mặc dầu có địa vị xã hội khác nhau, nhưng đều khổ, nỗi khổ của đàn bà. Đó có thể là nỗi đau khi bị đem ra làm “vật tế thần” trong “trò chơi vương quyền” đầy tàn nhẫn của những bậc tu mi nam tử. Họ bị ép gả để đổi lấy đất đai và hòa bình giả tạo như Công nữ Ngọc Khoa-con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên-trong “Con chim phụng cuối cùng”, bị vu oán giá họa để nhằm triệt tiêu mầm họa, củng cố địa vị như Thái phi Tống Thị Quyên trong “Trăng đắm”. Đó có thể là sự cắn răng chịu đựng những nỗi ô nhục, chấp nhận để quân giặc giày vò thân thể mình nhằm hướng đến chiến thắng cuối cùng của đoàn quân Sát Thát như cô gái bán rượu bên bờ Thiên Mạc. Ở một chiều kích khác, đó là nỗi hận thiên thu của những người phụ nữ có chí hướng “phát xung quan” nhưng “gặp thời thế thế thời phải thế”. Giấc mộng vương quyền không thành, tuyên phi Đặng Thị Huệ (“Hương thôn dã”) lâm vào cảnh thân bại danh liệt, em trai, con trai bị giết, bản thân bị giam trong ngục tù gặm nhấm những ánh hào quang quyền lực và quá khứ tuổi thơ êm đềm ngày trước. Nhà Tây Sơn thất trận, nữ tướng Bùi Thị Xuân bị vua Gia Long xử tử bằng hình thức voi giày trong “Nắng quái Tây Nam thành”.

Mặc dầu chín câu chuyện là chín phận người khác nhau, chín nỗi khổ khác nhau nhưng về cơ bản đều được tác giả xây dựng trên nền tảng của ba bút pháp cơ bản, đan xen giữa truyền thống và hiện tại. Đối lập là phương án đầu mà Nguyễn Thị Kim Hòa dành cho các nhân vật đồng giới với mình. Những đối lập toàn diện. Một bên là người phụ nữ thân cô thế cô. Một bên là đám đông đàn ông mang những danh xưng khác nhau như chồng, cha, tướng, quân giặc, tùy tùng. Một bên là vẻ đẹp trời cho yểu điệu, thướt tha “rõ ràng trong ngọc trắng ngà”. Một bên là những đàn ông vũ khí đầy mình và hừng hực bản năng. Một bên là những suy nghĩ ngây thơ hoặc những “toan tính” rất chi đàn bà. Một bên là những cái đầu lạnh lùng, đầy mưu sâu kế hiểm. Sự tương phản rõ ràng ấy dẫn đến kết cục tất yếu người phụ nữ luôn thua trong những cuộc đối đầu. Thất bại khiến họ rơi vào khủng hoảng. Và đó là cơ hội cho dòng ý thức phát huy điểm mạnh của mình. Khi vui con người ta có xu hướng hướng ngoại, chia sẻ với mọi người xung quanh. Khi buồn bã, thất vọng, chán chường con người ta sẽ thu mình lại vào nơi tận cùng của trái tim, sẽ tự vấn, sẽ trách móc, sẽ bứt rứt, sẽ hối hận… Bấy nhiêu tâm trạng phức tạp đan xen đó được chuyển tải qua dòng ý thức. Các nhân vật nữ của Nguyễn Thị Kim Hòa đều có những trường đoạn độc thoại nội tâm dài, thậm chí nhân vật như Tuyên phi Đặng Thị Huệ, nữ tướng Bùi Thị Xuân hay Thái phi Tống Thị Quyên đã độc thoại từ trang đầu tiên đến dòng cuối cùng của truyện. Bút pháp ấy còn được tác giả đẩy lên đến tận cùng bằng việc cho nhân vật Ngọc Khoa-con chúa Phúc Nguyên-phân thân thành hai người, đối thoại, trò chuyện, cảnh tỉnh lẫn nhau. Nếu chỉ dừng lại ở đây, thì những người phụ nữ dẫu được miêu tả kỹ lưỡng thế nào đi chăng nữa cũng chỉ dừng lại ở một điểm soi chiếu nội tâm bên trong. Nguyễn Thị Kim Hòa dường như không bằng lòng về điều đó. Chị muốn những người phụ nữ của mình phải được “mổ xẻ” đến tận cùng. Và cái nhìn đa điểm bên ngoài xuất hiện trong các truyện ngắn của chị như một điều tất yếu. Vậy là có một hình ảnh rất khác về những người phụ nữ hiện lên trong mắt những người xung quanh. Thái phi Tống Thị Quyên trong cái nhìn của vua Minh Mạng là cái gai cần phải nhổ nhưng trong suy nghĩ của tướng quân Lê Văn Duyệt bà chỉ là người phụ nữ bất hạnh, đáng thương. Để tỏ lòng tôn kính với bà, bậc khai quốc công thần của nhà Nguyễn đã “quỳ mọp trên nền sân Thế Miếu” trong “cơn mưa dầm, trong lạnh cóng của những đợt bấc tháng Chạp chốc chốc lại xộc đến”. Bùi Thị Xuân trong mắt vua Quang Trung là người “em gái nhỏ” cần được chăm sóc, bảo vệ: “Cô Xuân còn con nhỏ, Thiết Tượng lại bị thương, nên lui về phía sau”. Người nữ tướng ấy trong suy nghĩ của vua Gia Long vừa có ân cứu mạng khi đã “xua quân rẽ vào con đường núi ngay cạnh bụi cây rõ ràng biết ta đang run rẩy ẩn mình”, vừa không thể không giết để thị uy thiên hạ nhằm xây dựng một triều đại mới có “hiếu sinh là lẽ nhân nghĩa, là lẽ hợp ý đất lòng trời”. Cái nhìn bên trong với cái nhìn đa chiều bên ngoài kết hợp với nhau, vừa vặn, khéo léo, chặt chẽ như âm với dương, như đất với trời, như sông với núi tạc nên hình ảnh những người phụ nữ mang tính đại diện cho những thời khắc quan trọng của lịch sử. Từ cách thức xây dựng nhân vật ấy, chúng ta phần nào thấy được quan niệm về lịch sử của tác giả: Lịch sử hiện lên trong hình ảnh đa chiều về người phụ nữ. Một quan niệm đầy tính nhân văn và thiên tính nữ.

TÂM ANH