Cổ nhân từng đúc kết "văn là người" với một hàm ý văn phong, chữ nghĩa phần nào phản ánh/thể hiện trí tuệ, tâm hồn, cốt cách của người đó. Có người may mắn từ lúc sinh ra đã mang trong mình tố chất thiên bẩm của người "nghệ sĩ ngôn từ", vì thế chỉ cần một chút hưng phấn, hưng cảm chạm vào trái tim, ký ức là tự dưng ngòi bút của họ toát ra những áng văn, lời thơ tựa như suối nguồn tưới mát tâm hồn người khác.
 |
| Bìa tập thơ. |
Có người tuy trời không phú cho năng khiếu văn chương từ nhỏ, nhưng một phần do đam mê, đắm đuối với những tầng nghĩa ẩn sâu sau mỗi con chữ, phần khác do những suy tư, trải nghiệm thôi thúc từ chính cuộc sống cá nhân, cuộc sống xã hội với bao nỗi niềm, tâm trạng trong cuộc bể dâu thăng trầm, buồn vui, hay dở, được mất,... nên họ muốn dùng ngòi bút như một cách bày tỏ tâm tư, tình cảm và niềm tin, khát vọng của mình vào những điều tử tế, tốt đẹp trong nhân gian. Thơ đối với họ lúc này không chỉ là một cách "chữa lành" tinh thần, nâng đỡ tâm hồn thánh thiện cho con người mà còn là một cách chuyển tải những thông điệp chân thành của người trong cuộc.
Tôi bắt đầu vài ba lời như thế khi cầm trên tay tập thơ "Cứ đi là sẽ đến" (2025) của Thiếu tướng, PGS, TS, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Bá Dương. Đây là tập thơ thứ ba thầy Nguyễn Bá Dương trao tặng tôi, với lời đề từ nhã nhặn: "Gửi em một chút ân tình", sau hai tập "Sắc màu thương nhớ" (2019) và "Còn môi em sẽ cười" (2022), đều do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản. Bình quân 3 năm ra đời một tập thơ, đối với một chuyên gia uy tín hàng đầu của Quân đội trong lĩnh vực khoa học lý luận chính trị và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thì mật độ xuất bản thơ như vậy liệu có dày không? Và tính chất công việc của một nhà khoa học chính trị luôn đòi hỏi bản lĩnh vững vàng, tư tưởng nhạy bén, tư duy sáng suốt liệu có gì "mâu thuẫn" với tâm hồn nhạy cảm, mềm mại, tinh tế của người sáng tạo thi ca không?
Giải đáp thỏa đáng về băn khoăn trên, có lẽ không gì hơn là dẫn lại nguyên văn lời tự bạch của tác giả Nguyễn Bá Dương khi xuất bản tập thơ "Cứ đi là sẽ đến". Tác giả viết: "Cuộc sống và nghề dạy học mời gọi tôi, là động lực thôi thúc tôi "chơi thơ", sử dụng thơ để dễ bề đi vào lòng người, vận dụng vào bài giảng, bài viết chính luận vốn đậm tính tuyên truyền, làm dịu căng thẳng khi bàn về các triết lý cao siêu...
Yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trước mắt đòi hỏi phải mạnh mẽ, quyết liệt; không được phép ủy mị, thờ ơ với cuộc sống. Vì vậy, đôi dòng thơ tôi viết thiếu một khoảng trống nào đó để lả lướt, dạo chơi; cũng có lẽ vì thế nó chưa thật sự mềm mại về ngôn từ, không "đánh đu" con chữ. Vì vậy, một số bài thơ phản ánh khá rõ trong môi trường quân sự, chất "thép" của người lính. Với phong cách của nhà giáo chiến sĩ-một vị tướng, tôi đã mạnh dạn "phá cách", gắn chặt thơ với đời, với nghề; đi thẳng vào những điều mà cán bộ, chiến sĩ đang cần hành động để diễn đạt tư tưởng, gửi thông điệp, truyền niềm tin, lẽ sống, tích cực hóa nhân tố con người trong tu dưỡng, rèn luyện, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì nước, vì dân".
Không gọi mình là "nhà thơ", mà chỉ tự nhận là người "chơi thơ", sử dụng thơ chủ yếu vì mục đích nâng cao tính thuyết phục trong công tác giảng dạy, giáo dục, tuyên truyền và thừa nhận nhiều câu thơ chưa đậm "chất thơ", điều đó cho thấy tác giả rất đỗi khiêm cung, nhã nhặn và không kém phần tinh tế với bạn đọc khi tự bộc bạch một phần hạn chế trong phong cách thi ca của mình.
Theo quan niệm triết học mác xít, hình thức có mối quan hệ biện chứng với nội dung, là một phần biểu hiện của nội dung, nhưng nội dung luôn đóng vai trò quyết định đối với hình thức. Với ý nghĩa đó, tập thơ "Cứ đi là sẽ đến" thể hiện "nội dung" tâm hồn, cốt cách, trí tuệ của tác giả là muốn thông qua ngôn từ thơ ca để góp phần dạy chữ, dạy người, dạy nghề, thực hiện sứ mệnh "trồng người" cao quý; đồng thời cũng muốn gửi gắm đến bạn đọc một niềm tin yêu, lạc quan với cuộc sống và luôn sống sao cho "Cây đức" nở hoa", bởi vì: "Tất cả vật ngoài thân/ Chẳng theo ta mãi mãi/ Chỉ những gì đọng lại/ Có giá trị nhân văn".
Từ bài thơ đầu tiên mang tên "Ta và thơ" với những dòng tự sự: "Đón mời nàng thơ đến/ Trải lòng và tri âm", đến bài thơ sau cùng với tựa đề "Nhắc mình", tác giả Nguyễn Bá Dương luôn nhất quán với quan niệm nhân sinh bình thản: "Giữa đời say nhộn nhịp/ Giữ mình luôn thẳng ngay/ Lấy chân thành, hòa nhã/ Sống nhân văn từng ngày".
Trong số hơn một trăm bài trong tập thơ "Cứ đi là sẽ đến", không hẳn bài thơ nào cũng là "vàng ròng" về độ mượt mà, óng ả của ngôn từ, nhưng hầu như bài nào cũng lấp lánh vẻ đẹp triết lý sống cao đẹp của một vị tướng yêu đời, yêu người, yêu nghề và dành trọn tâm sức, trí tuệ cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, giáo dục, đào tạo và sứ mệnh đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tính triết lý sống trong tập thơ không chỉ được biểu hiện ở niềm tin vào những điều tốt đẹp, tử tế trong cuộc sống mà còn khích lệ, nhắn nhủ mọi người sống sao cho lương thiện, nhân văn để tinh thần luôn được thảnh thơi, thanh thản. Có lẽ vì thế, tác giả rất nhiều lần nhấn mạnh đến chữ “tâm” (tâm đức, tâm trong, tâm yên, tâm an, tâm can, tâm thái...); chữ “thiện” (thiện tâm, thiện lành, việc thiện, làm thiện, hành thiện, thành thiện...) và hàng chục lần nói về/nhắc đến chữ “an” (an vui, an nhiên, an yên, an tịnh, an lành, an thân, vui an,... kèm với những từ tương tự như vậy (bình yên, bình thản, bình thân, thảnh thơi, thanh thản, thanh tịnh, nhẹ nhàng, khoan thai...).
Cũng trong nhiều bài thơ, tác giả chú tâm sử dụng nhiều phạm trù đối lập nhau như phúc - họa, thịnh - suy, thành - bại, được - mất, thắng - thua, khôn - dại, sướng - khổ, giàu - nghèo, ngọt bùi - cay đắng... gắn với số phận đời người suy cho cùng chủ yếu bắt nguồn từ quá trình tu thân tích đức, tự giáo dưỡng, tự rèn giũa bản thân và cách ăn ở, đối xử với người, với việc, với xã hội, với thiên nhiên. Ngoài ra, tập thơ cũng có nhiều câu từ được kết tinh cô đọng, súc tích về quan niệm, phương châm sống nên có giá trị giáo dục, tuyên truyền, lan tỏa cảm hứng năng lượng tinh thần tích cực đối với bạn đọc. Đó chính là vẻ đẹp vị nhân sinh của tập thơ "Cứ đi là sẽ đến".