Tuổi thơ tôi lớn lên trong những câu chuyện kể sinh động về người lính, về chiến tranh và về những trận đánh bi hùng của ông cha trong cuộc kháng chiến cứu quốc. Những câu chuyện ấy được kể từ ông nội - người từng đi qua các cuộc kháng chiến, đã đánh nhiều trận đánh lớn nhỏ... Trong những câu chuyện của ông có nỗi vất vả gian nan trên đường hành quân nhưng các chiến sĩ vẫn nhường cơm sẻ áo cho nhau, có nỗi đau thương mất mát khi phải tận mắt chứng kiến sự ra đi đột ngột của những người đồng chí, đồng đội thân thiết và có cả những đớn đau thể xác khi bị cơn sốt rét hành hạ thừa sống thiếu chết nơi rừng thiêng nước độc...
Quá khứ như một cuốn phim sống động được lưu giữ lại trong trí óc của ông, chỉ cần chạm nhẹ thôi là mọi thứ lại hiện về. Tất cả những kỷ niệm được gói gọn trong chiếc ba lô bạc màu mà ông vẫn giữ gìn, trân trọng như một báu vật. Bên trong ba lô ấy không có nhiều đồ vật, chỉ có một chiếc bi đông đựng nước, một cuốn sổ nhỏ, một tấm ảnh và một lá thư được ông bọc kỹ qua mấy lớp túi ni lông. Ông bảo, đó là tất cả những gì còn lại đã theo ông suốt những năm tháng chiến tranh. Đối với ông, nó cũng quý giá như chính sự sống của những người lính trở về sau cuộc chiến.
Tháng Tư, tôi thường thấy ông trầm mặc lấy những vật dụng trong ba lô ra ngắm nghía rồi nhìn xa xăm. Tay ông mân mê bức ảnh cũ chụp những chàng trai mới mười tám, đôi mươi với gương mặt còn rất trẻ, là tiểu đội cũ của ông ngày mới nhập ngũ. Dù nước ảnh đã ngả màu không còn nhìn rõ mặt nhưng ông tôi vẫn kể vanh vách từng người. Có lần tôi hỏi "sao không thấy ông gặp gỡ họ bao giờ?”, ông buồn rầu trả lời “hy sinh hết rồi cháu ạ!".
 |
Đông đảo nhân dân chào đón cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975/ 30-4-2025). Ảnh TUẤN HUY
|
Cuốn sổ cũ là nhật ký chiến trường của ông từ ngày nhập ngũ, thi thoảng tôi vẫn được ông đọc cho nghe một vài đoạn ông viết về tâm trạng của cánh lính trẻ mỗi khi chuẩn bị bước vào trận đánh hay sau một trận nhừ tử cùng đối thủ. Riêng lá thư được bọc gói cẩn thận, ông không cho tôi xem bao giờ. Bà nội tôi bảo đó là thư tình của cô du kích năm xưa từng nuôi ông trong hầm thời kỳ làm cách mạng trong lòng địch.
“Trong một lần địch càn quét truy tìm Việt cộng nằm vùng, cô ấy đã mưu trí đánh lạc hướng rồi hy sinh thân mình cứu nguy cho ông và đồng đội. Lá thư ấy cô đã dúi vào tay ông trước lúc lựa chọn hy sinh cùng lời dặn: “Anh hãy sống cả phần của em cho tới ngày hòa bình”.
Lần ấy, tôi hỏi bà: “Bà có bao giờ ghen với cô ấy không? Khi ông vẫn trân quý lá thư của người con gái khác như một báu vật”, nhưng bà chỉ cốc đầu tôi: “Nói bậy! Ai lại ghen với quá khứ bao giờ. Bà cảm ơn cô ấy còn chẳng được. Chính cô ấy đã nhường cơ hội sống lại cho ông của chúng ta cơ mà”.
Tháng Tư, dù đã ở tuổi tám lăm nhưng ông tôi vẫn háo hức biết bao mỗi lần được đi gặp mặt đồng đội cũ. Ông dậy sớm mặc quân phục oai nghiêm, đeo đầy huân, huy chương lên ngực áo. Ông nhấp nhổm hết đứng lại ngồi mong tới điểm hẹn. Được gặp lại nhau, những người lính năm xưa giờ tuổi cao, mắt mờ, chân chậm nhưng vẫn giữ nét hào sảng một thời. Những lời hỏi thăm, những cái bắt tay thật chặt, những tiếng cười rổn rảng là cách để các cựu chiến binh động viên nhau trong cuộc sống.
Tôi từng chứng kiến không biết bao nhiêu lần hội ngộ của ông và đồng đội như vậy nhưng mỗi độ tháng Tư về, tôi vẫn thấy lòng mình lắng lại trong những suy tư về lý tưởng sống và trách nhiệm. Những người như ông tôi và các đồng đội đã sống, cống hiến hết mình cho những điều lớn lao hơn cả bản thân. Họ chẳng mong cầu gì nhiều, chỉ mong sao đất nước được thanh bình, lớp trẻ lớn lên biết trân quý, gìn giữ gìn nền hòa bình thiêng liêng của Tổ quốc.