Có lúc tôi tưởng đã quên bẵng đi khu ruộng nhà mình nơi con thung nằm giữa hai sườn đồi. Thế nhưng một lúc nào đó mẹ tôi ngẫu nhiên nhắc lại, như thể để tôi nhận ra thực sự. Bởi, khu ruộng ấy như một phần không thể thiếu trong tuổi thơ của tôi. Qua mùa mưa, lớp chất mùn mục từ trên hai sườn đồi xô xuống con thung như bồi đắp phù sa cho khu ruộng. Mẹ nhắc rằng trồng khoai vụ này chỉ tốt vào mớ dây dợ trên mặt đất thôi, còn củ sẽ không ngọt, chúng tôi có tiện tay bới ăn sống cũng chẳng ngon. Mẹ sẽ rắc ngô hẳn là bắp sẽ to, rồi vụ sau mới trồng khoai lang.

Mẹ vẫn hay tính toan cho từng mùa vụ như thế, và cũng không quên nói với tôi như thể tôi vẫn là con bé tóc vàng hoe cháy nắng theo mẹ đi làm, lăn lộn với hạt lúa củ khoai khi xưa. Nghe qua điện thoại nhưng tôi vẫn hình dung ra dáng mẹ ngồi trên bậu cửa, quần nâu xắn đến lưng ống chân, chiếc nón cầm tay quạt bay bay vài sợi tóc không được búi kỹ, còn ý nghĩ mẹ thì vẫn đang tất tả đếm nắng đong mưa trên đám ruộng nhà mình.

leftcenterrightdel
Minh họa: ANH KHOA 

 

Nhiều khi tôi hình dung cuộc đời mẹ thuộc về buồn vui của đất. Có những mùa nắng hạn, con thung như lòng chảo rang trên bếp, ruộng bãi cằn khô đến nỗi bập nhát cuốc xuống mà lưỡi cuốc bật lên như một sự thách thức người nông dân. Đất cát pha vốn hay lắng khi có nước, gặp nắng hạn lâu ngày thì rắn như đất nung. Nhìn lên hai sườn đồi với toàn cây cỏ dại cũng tiêu điều đi vì nắng, mẹ tôi xót xa như đau một vết thương trên thân mình. Sau đận nắng hạn là mưa. Mưa như trút hết những niềm nỗi của đất trời, của lòng người. Suy cho cùng thì có ai trăn trở với nắng mưa bằng người nông dân. Mẹ tôi lại cắt ngang cơn mưa để đi đắp nước be bờ. Từng nhát cuốc lật đất lên cho nước ào vào lòng đất, thấm sâu vỗ về từng thớ để những cỗi cằn, khô khát lại được tưới mát và sinh sôi. Dáng mẹ tôi nhập nhòa, lặn ngụp trên buồn vui, được mất của khu ruộng một đời người canh tác.

Tôi chợt nhớ mình đã đọc được ở đâu đó câu chuyện của một người nông dân. Ông không tin bất kể ai, niềm tin ông chỉ dành cho đất, bởi đất không bao giờ bội bạc con người. Người vợ của ông vì không chịu được lao động vất vả và nghèo khó nên đi theo tay thương lái, bỏ lại cho ông những người con trai nhỏ và khu đất hoang rộng mênh mông như một nỗi cô đơn vô tận. Những ngày buồn bã và tuyệt vọng nhất ông chỉ biết cuốc xới, khai hoang cho khuây khỏa rồi gieo vào lòng đất những hạt mầm hy vọng. Những vụ mùa không phụ ông đã lên xanh để ông nuôi những đứa con đói dại. Nhiều năm trôi qua, những người con trai cũng lớn rồi rời xa mảnh đất của cha, chỉ còn người cha ở lại vui vầy với đất. Đất đã cho ông hy vọng và bây giờ đất đã cho ông niềm tin. Một ngày kia người vợ trở về xin ông tha thứ. Ông đưa người vợ nắm hạt giống đã rang khô và bảo nếu bà gieo chúng nảy mầm thì ông sẽ tha thứ. Người vợ xấu hổ biết đó là điều không thể. Đất chỉ bao dung với những ai tin tưởng gieo vào lòng đất niềm hy vọng.

Mùa này, khu ruộng nhà tôi đang nằm nghiêng mình theo những sườn đồi để chờ đợi những cơn mưa cho một vụ mùa mới. Mẹ tôi hẳn là đang ủ mạ đợi mầm để đem gieo trên những thửa ruộng quen. Đất đai âm thầm nhưng vẫn luôn cất lên những bài ca mà có lẽ chỉ những người yêu đất mới cảm nhận được. Và trong bức tranh của trí tưởng tượng, tôi thấy mẹ tôi đang vung tay gieo mạ giống như một vũ điệu của đất để từ đó những hạt mầm sẽ vươn lên.

Tản văn của NGUYỄN THỊ KIM NHUNG