Trước khi đặt bút viết những câu chuyện này, tôi cũng đắn đo suy nghĩ nhiều bởi nói về việc hiếu là nói về vấn đề tâm linh, về quan niệm, về phong tục tập quán đã ăn sâu vào nếp nghĩ, nếp sống của người nông dân hàng nghìn năm nay. Nhưng những hình ảnh, những tình huống, những nỗi niềm trong việc tổ chức đám hiếu ở một vài làng quê hiện nay mà tôi đã từng gặp, từng chứng kiến cứ day dứt mãi khiến không thể không lên tiếng.

Hôm ấy là ngày mùa. Nhìn đám mây đen từ xa, bà con nông dân làng C không ai nghĩ mưa to, sấm chớp sẽ đổ ào ngay xuống cánh đồng vẫn còn nắng gắt. Nhưng đột ngột có một cú sét dữ dội bất ngờ đánh xuống đường dây điện cao thế vắt ngang qua cánh đồng ở vị trí khu ruộng cao nhất khiến một người phụ nữ đang tát nước chết ngay tại chỗ. Thế là sau khi làm đám tang xong, gia đình phải dựng một cái lều nhỏ ngay bên cạnh mộ chị, đồng thời kéo gần 2km dây điện từ đầu xóm đến nghĩa địa để thắp sáng và cử người trông coi mộ suốt đêm. Người chồng phải nhờ anh em ngủ ở nhà mình để trông giữ hai đứa con nhỏ, còn đích thân anh và một người em phải lặn lội thay nhau thức trắng đêm để trông mộ chị suốt 100 đêm ròng rã. Vì ở đây người ta có quan niệm rằng, nếu không trông mộ người bị sét đánh chết thì những kẻ đi ăn cắp sẽ đào bới mộ lên để “cắt chân, cắt tay”! Và nếu lấy được những “cái chân, cái tay” của người bị sét đánh ấy làm “lá bùa phù hộ” cho những kẻ ăn cắp… không bao giờ bị ai bắt! Thời tiết khô ráo, mát mẻ thì không sao, chứ những đêm mưa to, gió lớn mà phải một thân một mình lọ mọ, lủi thủi bên nấm mộ giữa không gian đêm tối mịt mùng trên nghĩa địa quả là một điều… cực hình về tinh thần! Không những thế, sau 100 ngày thức hầu như trắng đêm như vậy, những người trông mộ mắt bị thâm quầng, mặt hốc hác, dáng vẻ phờ phạc, tâm thế uể oải, sức khỏe giảm sút là điều đương nhiên.

Cách đây không lâu, tôi được chứng kiến một đám hiếu ở làng quê gần thành phố V của một tỉnh trung du. Người chết mới ngoài năm mươi tuổi, là cán bộ của xã nên ngày đưa ra đồng, anh em, họ hàng, bà con làng xóm và đội ngũ cán bộ địa phương đi rất đông. Từ nhà ra nghĩa địa chưa đầy một ki-lô-mét, nhưng phải mất hơn 3 giờ đồng hồ mới ra được chỗ chôn cất. Vì trên quãng đường đi, thỉnh thoảng con cháu, nhất là các con gái của người đã khuất lại lăn ra giữa đường để khóc lóc, thở than, kêu gào thảm thiết. Hôm ấy trời mưa tầm tã, con đường đất nhầy nhụa đến người đi bộ cũng cảm thấy khó chịu vì lầy lội, nhão nhoẹt, nhưng bốn cô con gái (trong đó có một người cháu ruột) sau khi đi được một đoạn lại ngồi bệt ra đường phía trước chiếc xe tang, rồi nằm xuống đất, lăn lộn mấy vòng liền với những tiếng khóc rất bi thương, đau khổ. Thế là từ quần áo tang trắng, khăn xô trắng đội đầu đến chân tay, mặt mũi người nào cũng bê bết bùn đất. Chưa hết, trước khi đặt quan tài xuống huyệt, các cô lại tiếp tục lăn quanh huyệt, tiếp tục tay cào bới đất, tiếp tục kêu khóc ầm ĩ như muốn “níu kéo” người quá cố… quay trở về trần thế!

Người xưa có một câu rất thấm thía “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Việc những người sống tổ chức chu đáo, chu toàn cho người đã khuất được “mồ yên mả đẹp” thuộc về văn hóa tâm linh thấm đượm tinh thần và ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Tuy vậy, một vài làng quê hiện nay vẫn còn sót lại một số quan niệm, tập tục cũ (thậm chí mang màu sắc mê tín) trong việc tổ chức tang lễ, phúng viếng, trông coi mồ mả qua đêm là chưa phù hợp với nếp sống văn hóa mới trong thời đại văn minh. Vẫn biết đây là những vấn đề vừa tế nhị, vừa nhạy cảm mà không phải dễ gì ngày một ngày hai giải quyết được. Điều muốn đề cập ở đây là các cấp chính quyền, mặt trận, đoàn thể địa phương cần tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức, có một cái nhìn khoa học, quan niệm đúng đắn để tổ chức việc tang lễ bảo đảm trang nghiêm, tôn kính, thiêng liêng, tiết kiệm mà vẫn giữ gìn được thuần phong mỹ tục của dân tộc và phù hợp với nếp sống văn minh trong thời đại mới.

Nguyễn Văn Hải