QĐND - Với 6 tiểu thuyết đã xuất bản tại Việt Nam và nước ngoài là: "Made in Vietnam", NXB Văn Mới, California, 2002; "Chinatown", NXB Đà Nẵng, 2005/Bản tiếng Pháp: "Chinatown", Đoàn Cầm Thi dịch, NXB Seuil, Paris, 2009; "Paris 11 tháng 8", NXB Đà Nẵng, 2006; "T mất tích", NXB Hội Nhà văn, 2007/Bản tiếng Pháp: "T. a disparu", Đoàn Cầm Thi dịch, NXB Riveneuve, Paris, 2012; "VânVy", NXB Hội Nhà văn, 2008... Nhà văn Việt kiều Thuận hiện diện như một gương mặt văn học độc đáo, không thể trộn lẫn của văn đàn Việt Nam đương đại.

Nhà văn Thuận, tên thật là Đoàn Ánh Thuận, sinh năm 1967, tại Hà Nội. Chị tốt nghiệp Khoa Anh ngữ, Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Pyatigorsk (Liên bang Nga) năm 1991, làm cao học Văn học Anh cổ điển tại Đại học Paris 7 (1991-1992) và cao học Văn học Nga đương đại tại Đại học Sorbonne (1992-1993), chị hiện sinh sống tại Pháp. Cuộc đời xê dịch đó ít nhiều đã được Thuận đưa vào các tác phẩm của mình như những chất liệu nghệ thuật để khắc họa nên thân phận người Việt, đặc biệt là thân phận người Việt xa xứ. Có lần, nhà văn Thuận tự xác định: “Việt Nam là đất nước tám lăm triệu dân-tám lăm triệu số phận, nhiệm vụ của nhà văn là thể hiện sự phong phú của những con người này”, Thuận đã đưa đến cho người đọc những góc nhìn khác về hiện thực.

Dù bối cảnh câu chuyện ở Việt Nam hay ở Pháp, hiện lên trong tác phẩm của Thuận hoàn toàn không phải là bức tranh tươi sáng như vẫn thường thấy trong những tấm bưu ảnh đẹp đẽ; mà ngược lại, là hiện thực trần trụi về một nước Pháp không có tháp Ép-phen, vườn Lúc-xăm-bua hay sông Xen mơ mộng, chỉ có những kẻ di dân ngày ngày vật lộn trên xứ người để kiếm tiền nuôi sống gia đình, để tìm một tấm chồng… và nơm nớp lo sợ đến quặn thắt mỗi khi tới kỳ gia hạn thẻ nhập cư; hoặc là cuộc sống thời bình ở Việt Nam vẫn đầy nhọc nhằn, vất vả.

Thuận là nhà văn rất nhạy cảm với cảm thức tha hương, điều này ngập tràn trong mỗi trang viết của chị. Không có nơi neo đậu cho tâm hồn mình, cũng thiếu vắng cả niềm tin, các nhân vật đều trong trạng thái kiếm tìm một thứ gì đó: Có người vợ tìm chồng ("Chinatown"), có người chồng tìm vợ ("T mất tích"), có cô gái ế cầu vận may trên xứ người ("Paris 11 tháng 8"), có đứa con đi tìm sự thật về người mẹ đã mất ("Thang máy Sài Gòn")... Trên hành trình ấy, họ bắt gặp nhiều mảnh đời khác họ về địa vị xã hội, hoàn cảnh xuất thân, về màu da, quốc tịch…, nhưng suy cho cùng đều là những con người không biết được lý do tồn tại đích thực của mình. Không có đáp án nào được đưa ra, kết thúc câu chuyện luôn bị bỏ ngỏ giữa rất nhiều giả định, nhân vật rốt cuộc vẫn là kẻ lữ thứ cô độc, hoang mang trong một thế giới xa lạ.

Cùng viết về thân phận người Việt, nhưng các tác phẩm của Thuận lại được tổ chức theo nhiều cách khác nhau. Thuận quan niệm “viết là một cách để phiêu lưu, để nhập vai vào một cuộc sống khác, để phá vỡ sự cân bằng vốn có”, mỗi tiểu thuyết của chị, do vậy, là một thể nghiệm về lối viết: Từ những câu văn dài đến nửa trang và nhiều trường đoạn ("Made in Vietnam"); truyện lồng trong truyện, không chia chương, đoạn ("Chinatown"); kết hợp văn và báo ("Paris 11 tháng 8"); đến không có truyện, giả trinh thám ("T mất tích"); sắp xếp các chương không theo một trật tự nào cả với tên chương chỉ có ba từ lặp đi lặp lại: Hà Nội, Sài Gòn, Paris ("Thang máy Sài Gòn"). Thuận biến văn chương trở thành một cuộc phiêu lưu đúng nghĩa với việc sử dụng “những câu văn trùng điệp, những lối viết phá bỏ ngữ pháp, những từ ngữ đọc lên như nghe và thấy được âm thanh, hình ảnh của nhạc, của họa”, như lời nhận xét của dịch giả, nhà nghiên cứu văn học Đoàn Cầm Thi. Đan xen các bản nhạc, bài thơ vào văn xuôi; trở thành nhân vật của chính mình khi tự viết thêm một đoạn vĩ thanh kể về quá trình viết "T mất tích" của một người tự xưng là tác giả cho tác phẩm "T mất tích" sau 5 năm xuất bản; hay sử dụng nội dung chính của "Thang máy Sài Gòn" để viết một bản mới bằng tiếng Pháp với nhiều chi tiết khác bản gốc.

Tất cả cho thấy nỗ lực cách tân hình thức tiểu thuyết không mệt mỏi của Thuận, nhằm đưa tiểu thuyết Việt Nam hòa nhập vào quỹ đạo hiện đại của thế giới. Nỗ lực này đã phần nào được ghi nhận bằng Giải thưởng Sáng tạo năm 2013 của Trung tâm Sách quốc gia Pháp dành cho "Thang máy Sài Gòn". Đồng thời, như chính nhà văn đã khẳng định, đó là một cách bộc lộ lòng yêu nước của chị: “Mục đích của tôi là làm sao để độc giả đến từ những nền văn chương khác không còn thờ ơ với văn chương Việt Nam”. Có lẽ đây không chỉ là tiếng lòng của riêng Thuận, mà còn của nhiều cây bút Việt kiều xa xứ khác.

Thạc sĩ LÊ THỊ DƯƠNG