QĐND - Các bậc túc nho ngày xưa khuyên răn người đương thời và hậu thế:

Thứ nhất là tu tại gia,

Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.

Đấy là lời dạy hàm súc, sâu sắc và vô cùng ý nhị, theo tư tưởng Phật giáo. Người Việt Nam ta chủ yếu theo đạo Phật. Xưa nay, thấu hiểu và làm theo được lời giáo huấn đó của ông cha ta có ý nghĩa tích cực trong việc giáo dục đạo đức, lối sống và nâng tầm văn hóa cho mỗi con người và cho cả cộng đồng dân tộc.

“Tu” - tức là sửa mình, là rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách sao cho tốt, cho đẹp, cho hay. Nói cách khác, “tu” là tự điều chỉnh những suy nghĩ và hành vi của mình, để cho mình trở thành người lương thiện, tử tế, tiếp cận và làm theo những điều Chân-Thiện-Mỹ! “Tu” như vậy là chú trọng sửa đổi về mặt đạo đức, tính tình con người; cũng có thể hiểu rộng hơn, là tu dưỡng, bồi bổ về ý chí, trí tuệ. Dù là sửa mình về điều gì thì cũng nhằm đạt được những điều tốt đẹp không chỉ cho riêng mình và những người trong gia đình mình, mà còn góp phần làm tốt đẹp cho xã hội. Về điểm này, tư tưởng Phật giáo gặp gỡ tư tưởng Nho giáo: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Còn thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820) thì viết rằng: “Tu là cõi phúc”.

“Thứ nhất là tu tại gia” là “tu” ở chính ngay trong gia đình của mình - đó là điều trước tiên, thường xuyên và cũng là điều đúng đắn nhất. “Tu tại gia” là ngay từ trong mỗi gia đình, mỗi người tự giáo dục mình, tự rèn luyện và giáo dục lẫn nhau, tiếp thụ sự dạy dỗ chu đáo, tốt đẹp của ông bà, cha mẹ, để trở nên người có ích cho gia đình và người công dân tốt ngoài xã hội. Phật giáo chú trọng việc “tu nhân, tích đức” để làm những điều từ bi bác ái. Nho giáo đề cao “ngũ thường” trong việc “tu thân”. “Ngũ thường” bao gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Có đủ “ngũ thường”, mới xứng đáng là người “quân tử” - tức người có học và biết sống cao thượng; nếu không, thì chỉ là kẻ “tiểu nhân” tầm thường, đáng ghét, đáng khinh. Như vậy, cốt lõi của “tu” là sự chỉnh sửa, bồi dưỡng cái Đức, cái Tâm của mỗi người.

Không ít người quan niệm rằng: “Tu tại gia” là xây điện thờ cúng, lập bàn thờ, đặt tượng Phật và bát hương trong nhà mình; rồi sớm tối, hoặc ngày Tết, ngày mồng một, ngày rằm thì sắm đồ cúng lễ cho thịnh soạn, thắp hương tụng niệm cầu Trời khấn Phật cho bản thân và gia đình mình được bình an phú quý, tấn tài tấn lộc, thăng quan tiến chức, vạn sự như ý. Nếu chỉ hiểu như vậy thì thật là hạn hẹp, không đúng với ý tưởng nhân đạo và nhân văn cao cả của các bậc túc nho thủa trước. Có nhiều người “tu” theo kiểu ấy; nhưng đáng buồn thay, gia đình họ sống lục đục, kém luân thường đạo lý, ai nấy không chú ý sửa mình theo những điều hay lẽ phải. Hằng ngày, họ thường làm những điều xấu, điều ác với hàng xóm láng giềng, vẫn vơ vét công quỹ, chiếm đoạt đất đai, hoặc hách dịch cửa quyền nơi công sở, hoặc lừa đảo, buôn gian bán lận bóp hầu bóp cổ “đồng bào mình”, hoặc lưu manh, côn đồ, trộm cướp, hoặc lười biếng và sống sa đọa, hoặc nịnh hót, chui luồn để cầu chức, cầu lợi, cầu tài! Như thế thì không thể gọi là “tu”.

Cầu phúc, cầu lộc, cầu tài, cầu chức, cầu danh,... thật ra là những lẽ thường tình, đáng cảm thông, trân trọng. Nhưng, cùng với những điều cầu xin lợi lộc cho bản thân và cho gia đình mình, thì chớ làm những điều thất đức, bất nhân với người khác. Đấy là điều tối kỵ của người “chân tu” (tu thật sự, tu chân thành)! Những người có lương tri, thẳng thắn và trung thực không thể chấp nhận những kẻ “khẩu Phật, tâm xà”, “miệng nam mô, bụng một bồ dao găm”! Và, Trời, Phật, Thánh, Thần cũng không thể phù hộ độ trì cho loại người xảo trá, bất lương này.

Sau “tu tại gia”, mới đến “tu chợ”, “tu chùa”. “Tu chợ” là không thất tín trong sản xuất, buôn bán, kinh doanh; không lừa gạt, điêu toa đối với người tiêu dùng. “Tu chùa” là cần thành tâm đối với chư Phật, không cần sắm lễ lạt cho to mà giả tạo, đồng thời phải làm sao để những lời cầu khấn trong chốn chùa chiền biến thành những ứng xử, hành vi lương thiện của mình đối với xã hội. 

Mới hay, cái triết lý “Tu tại gia” là một giá trị lớn, một bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc. Mấy ai đã hiểu được và làm theo được?

ĐÀO NGỌC ĐỆ