Tìm hiểu về thành Cổ Loa, thấy thế trận của công trình cũng dàn ra trên tám hướng của tự nhiên với 9 cửa, có người ngộ nhận đây là sự ảnh hưởng từ “trận đồ bát quái” của người Hán vì nó cũng dàn ra trên tám (bát) hướng: bắc, nam, đông, tây, đông bắc, đông nam, tây bắc, tây nam. Nhưng nghiên cứu kỹ, chúng ta thấy rõ là không có hiện tượng đó.
 |
|
Sơ đồ thành Cổ Loa. Ảnh: Internet
|
Trước khi đi vào nội dung, xin được khẳng định một điều là trong quá trình xây dựng thành Cổ Loa, người Việt cổ không hề tiếp nhận được một hiểu biết nào về “trận đồ bát quái”. Tại sao lại nói như vậy? Bởi lẽ, theo nội dung tham luận khoa học của Phó giáo sư Trần Nghĩa (Viện Nghiên cứu Hán – Nôm), đã được đưa vào tập kỷ yếu (bằng chữ Hán) Hán tự truyền bá ký Trung – Việt giao lưu quốc tế nghiên thảo hội. Luận văn đề yếu/toàn văn. Thâm Quyến, 19 đến 21 tháng 12 năm 2003, Thương vụ ấn quán, trang 55, và một năm sau đó, ý kiến này được khẳng định lại tại “Hội thảo quốc tế về Nho học ở Việt Nam”, do Viện Nghiên cứu Hán – Nôm Việt Nam và Viện Ha-vớt Hoa Kỳ tổ chức tại Hà Nội vào ngày 17, 18-12- 2004 thì “chỉ từ thời Triệu Đà (tức sau năm 179 Tr.CN), chữ Hán mới thực sự du nhập vào Việt Nam”. Điều đó muốn nói lên rằng, dưới thời Thục Phán, người dân Âu Lạc xây thành Cổ Loa theo những tư duy quân sự độc lập của riêng mình, không hề có một phương tiện, một tư liệu nào liên quan tới việc thu nhận những kiến thức về “trận đồ bát quái”, vì chữ Hán thì chưa vào, mà bản thân nền “văn minh sông Hồng” lại vốn là một “nền” văn minh không có văn tự, như đã nói. Giữa hai thế trận này có sự khác nhau là điều tất yếu, còn sự giống nhau chỉ là chuyện ngẫu nhiên.
Hãy bàn về sự giống nhau. Thành Cổ Loa và “trận đồ bát quái” đều có cùng một kiểu trận địa phòng ngự vòng tròn, có chiều sâu. Xây dựng theo hình bầu dục, thành Cổ Loa gồm ba vòng khép kín: Thành Nội, Thành Trung và Thành Ngoại. Công trình quân sự này bố trí theo tám hướng tự nhiên với chín cửa: hai cửa Đông (một cửa của Thành Ngoại và một cửa là cửa Cống Song – cửa đường thủy – của Thành Trung), hai cửa Bắc (một cửa của Thành Trung và một là cửa Khâu của Thành Ngoại), hai cửa Nam (một là cửa của Thành Nội và một là cửa chung cho cả Thành Trung và Thành Ngoại), hai cửa Tây Nam (một của Thành Trung và một của Thành Ngoại) và cửa Tây Bắc. Vì xây dựng nhiều lớp tường thành – thuật ngữ quân sự gọi là thành quách-nên thành Cổ Loa mới có tên là Thành Ốc, do đó nó ưu việt hơn thành trì của nhiều nước dưới thời trung đại sau này, kể cả các thành trì kiểu Vauban của nhà Nguyễn vào thời cận – hiện đại ở Việt Nam, xây dựng theo hình vuông hoặc hình chữ nhật và chỉ có một lớp tường bao quanh. Theo giới quân sự, loại thành hình vuông chỉ sử dụng được 1/4 lực lượng. Trái lại, loại thành hình tròn có thể phát huy gần 1/2 lực lượng để chiến đấu trên một hướng. Thành xây một lớp sau khi chọc thủng, đối phương đủ sức nhanh chóng phát triển binh lực vào phía trong. Riêng loại thành nhiều lớp lại có khả năng tạo được điều kiện liên tục ngăn chặn địch khi chúng đột nhập đồng thời là chỗ dựa vững chắc để đưa lực lượng ra phản kích. Còn “trận đồ bát quái” là cách bố trí, triển khai lực lượng theo một thế trận nhất định, khi chiến đấu phòng ngự và khi đóng quân để chống đối phương tập kích. Trận nhỏ nhất, cơ sở của “trận đồ bát quái”, được dàn ra thành tám phân đội, xếp theo tám hướng - quy cách một trận địa phòng ngự hình tròn. Ngoài tám phân đội ra còn có một phân đội cơ động, đặt ở giữa, bảo vệ cơ quan chỉ huy, đồng thời làm đội dự bị, tăng cường cho các hướng bị uy hiếp. Các trận nhỏ xung quanh cùng với lực lượng cơ động, hình thành một trận lớn. Cứ thế, số quân càng nhiều, trận địa càng lớn. Cách bố trí như vậy làm cho trận địa đã có chiều sâu lại cộng thêm lực lượng dự bị bên trong khiến cho bên tiến công rất khó xoay trở khi hành động. Kiểu cấu trúc trận địa phòng ngự và vòng tròn theo mô hình “trận đồ bát quái” hiện nay được đánh giá là tiên tiến và đang được nhiều quân đội trên thế giới chú ý vận dụng.
Tuy thế, giữa “trận đồ bát quái” và thành Cổ Loa cũng có sự khác nhau. Thứ nhất, “trận đồ bát quái” là đội hình dã chiến tạm thời, chỉ liên quan đến từng trận đánh, ở quy mô chiến thuật. Trái lại, Cổ Loa là một “tòa thành kiên cố”, chiến đấu lâu dài, liên quan đến toàn bộ cuộc chiến tranh, ở quy mô chiến lược. Thứ hai, “trận đồ bát quái” vốn là kiểu đội hình chiến đấu khi mới xuất hiện của bộ binh người Hán trên đất “hoàng thổ”, khô ráo và bằng phẳng, chống lại người – ngựa của dân du mục phương Bắc nên thuần túy chỉ là kiểu đội hình phòng ngự của bộ binh. Cổ Loa được xây dựng trên bờ tả ngạn, bờ phía bắc sông Hoàng, vào thời điểm đó là con sông lớn, nối liền sông Hồng với sông Cầu. Việc lựa chọn xây dựng địa điểm phòng ngự bên một con sông như thế buộc bên tiến công, khi ra quân phải chia sẻ lực lượng trước một “chướng ngại nước”. Dòng sông Hoàng, quân cảng Đầm Cả, cùng với các rạch sông và ba vòng hào nước quanh thành, rất hợp với nhau, đã tạo ra một hệ thống đường thủy, như đã nói. Điểm khác biệt của Cổ Loa với các thành trì trên thế giới chính là ở chỗ này, chỗ tính chất nước trong hào, một bên là nước chảy và một bên là nước lặng. Thành trì nói chung mà người ta vẫn gọi, chỉ có nghĩa là “tường (thành) và ao (trì)”. Chính địa hình quân sự sông nước vùng xây thành đã làm cho Cổ Loa trở thành một căn cứ thủy – bộ liên hoàn. Thứ ba, “trận đồ bát quái” là cách dàn quân theo một thế trận nhất định nên rất xơ cứng. Vì mục đích của nó chỉ là chống lại đối phương tập kích khi đóng quân và đánh lui đối phương khi phòng ngự. Trái lại, quá trình tác chiến lâu dài ở Cổ Loa linh hoạt hơn nhiều. Ở đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu tiến công và chiến đấu phòng ngự. Khi phòng ngự, bộ binh, nhất là bộ binh tên – nỏ, từ trên các ụ đất nhô ra ở tường thành, đã dùng vũ khí đánh xa ngăn chặn quân địch, đồng thời từ Đầm Cả, thủy quân triển khai ra các vòng thành để phối hợp chiến đấu. Khi tiến công, từ căn cứ Cổ Loa, theo dòng Hoàng Giang, thủy binh cơ động, tỏa đi khắp nơi, lên tận chiến trường chính ở vùng đồi núi Tiên Du và vùng núi Vũ Ninh. Hai truyền thống ưu việt: giỏi cung nỏ và thạo thủy chiến của người Âu Lạc đã được phát huy mạnh mẽ.
DƯƠNG XUÂN ĐỐNG