1- Không rõ tại đâu, trong hàng ngàn câu thơ của cố nhà thơ Xuân Diệu để lại, tôi chỉ nhớ được một câu.

Mỗi lần du qua đất Quốc Oai, câu thơ này đột thức dậy, đó là câu thơ “Thăm con rồng bướng của Chu Thần”. Câu thơ tôi đọc và nhớ không phải từ các tuyển thơ của Xuân Diệu mà từ một chùm thơ của ông in trên Tuần báo Văn nghệ vào quãng trước sau năm 1975 gì đó. Khi ấy ông còn sống, cũng chính là thời cây cao bóng cả nhất của ông đang lấn át mạnh thi đàn thơ ca nước ta quãng thời gian này.

Chùm thơ đó của Xuân Diệu, ngoài bài “Thăm Sài Sơn”, còn một bài vịnh cảnh Hạ Long và một bài thơ nữa tôi không còn nhớ rõ.

Sở dĩ tôi nói quá kỹ về xuất xứ một câu thơ duy nhất mà tôi còn nhớ được của cố nhà thơ Xuân Diệu, là bởi câu thơ này có liên quan đến Chu Thần Cao Bá Quát (1809-1854). Nơi dải Sài Sơn thuộc phủ Quốc Oai đột ngột nổi lên như con độc long, nơi này Chu Thần Cao Bá Quát đã mở trường dạy học nhiều năm và đã tổ chức cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương vang động. Liệu Chu Thần tài năng và danh tiếng ứng với con độc long kia?

Một câu thơ khá thường tình mà phổ vào cả phong khí của một vùng đất, cả phong vận một đời người, kể cũng quý.

2- Tất cả điều tản mạn ở trên về một câu thơ của cố nhà thơ Xuân Diệu, về dải Sài Sơn thuộc phủ Quốc Oai gắn liền với tên tuổi Chu Thần Cao Bá Quát được nảy ra trong suy tưởng của tôi cũng là tại bởi đôi câu đối thần diệu của Chu Thần tôi ghi lại từ ông Đặng Văn Tu-nhà Folklore học, đọc cho tôi nghe vào một buổi tối giáp Tết năm ngoái.

Thực ra, đôi câu đối này không xa lạ với những người có Hán học và những người quan tâm đến thể tài câu đối. Vậy mà đối với tôi câu đối ấy đã dựng dậy trước tôi chân dung danh nhân cùng thời đại mà danh nhân đó sống:

“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”

(Mười năm bàn đạo giao du, khó như tìm thanh gươm cổ. Một đời cúi đầu sùng bái trước mai hoa).

Cái chí và cái khí của đôi câu đối truyền đến ta như vậy là đủ. Nó hàm súc và trực tiếp như hơi nóng từ ngọn lửa.

Phải chăng R.Anberti (nhà thơ Tây Ban Nha) sinh thời ao ước có một loại thơ “ngắn gọn, súc tích và trực tiếp như sự bùng cháy của ngọn lửa”. Ông không hay rằng từ hàng ngàn năm phương Đông đã có thể loại thơ 2 câu trực tiếp như lửa này sao.

“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”

Khí phách đến thế là tận. Cao nhã đến vậy là tận. Cái hùng khí của người mười năm đi tìm thanh kiếm cổ của cổ nhân, cũng chính là con người suốt đời run rẩy trước vẻ đẹp của hoa mai, cái vẻ đẹp quyến rũ của loài hoa mỏng manh và trinh khiết.

3- Xét cho cùng, câu đối chính là thể loại thơ 2 câu phương Đông độc đáo, được biểu hiện ở hình thức cô đọng nhất, tượng hình nhất. Mặc dù nó ngắn như phong dao, tục ngữ nhưng sức truyền xa hơn cả về ý nghĩa triết học, cả về ý nghĩa thẩm mỹ nghệ thuật. So với thơ, câu đối tước bỏ được cái phần rườm rà của sự dẫn dụ móc nối. Chỉ bằng hai vế (2 câu), câu đối không còn thời gian và diện tích để nhìn ngắm diễn giải nhiều. Nó buộc phải bật ra điều cốt yếu nhất, trọng tâm hệ trọng nhất-muốn nói, muốn truyền đạt bằng sự đối ứng uy nghi nghiêm ngặt.

Câu đối còn tự khẳng định là thể loại thơ mang tính tích cực hiếm thấy của loại thơ tiếp xúc trực tiếp với môi trường độc giả. Ngoài ý nghĩa mà nó đạt được về tính thẩm mỹ trang trí gắn liền bên kiến trúc, nó còn gặt hái được hiệu quả bền chắc hơn cả loại thơ quảng trường đương đại với môi trường lý tưởng nhất cho sự tiếp xúc trực tiếp mang tinh thần nghiêm thiêng với độc giả mọi lứa tuổi, mọi thế hệ.

Qua đó ta có thể tự hào coi câu đối là hiện thân sống động của thể thơ hai câu độc đáo với quảng đại quần chúng được thử thách qua nhiều thời đại.

Đôi câu đối:

“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

Hoặc câu:

“Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn

Đằng vân do hận cửu thiên đê”

(Đánh giặc 3 tuổi đã cho là muộn; Bay lên chín tầng mây vẫn thấy hận là còn thấp) của Chu Thần Cao Bá Quát ở đền Phù Đổng chỉ là một thí dụ trong vô vàn thí dụ đầy sức thuyết phục khác.

DƯƠNG KIỀU MINH