Trong lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc, Lưu Bang được đánh giá là một nhân vật lừng danh vì đã có công xây dựng nên vương triều Hán, một vương triều tồn tại lâu nhất, kéo dài tới 426 năm (từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 220), trong khi các vương triều khác không tồn tại quá 300 năm. Nhưng để có một triều đại lớn như vậy, trong quá trình khởi nghiệp, ông đã phải gánh chịu bao long đong, vất vả.
Sinh ra ở cuối thời Chiến Quốc (475-221 trước Công nguyên), Lưu Bang-còn có tên là Lưu Quí-từng giữ chức Đình Trưởng, một dạng quan nhỏ dưới triều Tần, quê ở Phong Hương, huyện Bái (nay là huyện Bái, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc) nên cũng có tài liệu ghi gọn ông là người Phong Bái.
Khi mới dấy binh, với khoảng 3.000 quân, Lưu Bang tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân, chống lại nhà Tần, dưới sự lãnh đạo của Trần Thắng và Ngô Quảng. Sau khi các lãnh tụ khởi nghĩa hy sinh, nội bộ lực lượng nghĩa quân đã hình thành hai phe chống đối nhau: một bên là Lưu Bang và một bên là Hạng Vũ, vốn quý tộc nước Sở. Lịch sử gọi đây là thời kỳ Hán-Sở tranh hùng, kéo dài tới 5 năm (207-202 trước Công nguyên).
Bốn năm đầu, Hạng Vũ luôn luôn chiếm ưu thế. Vì sức yếu, không thể chống lại được, nên chỉ trong vòng 48 tháng đó, Lưu Bang phải nhân nhượng, giảng hòa hoặc rút chạy tới 8 lần. Lần thứ nhất, mặc dù là người đầu tiên vào tiếp nhận sự đầu hàng của quân Tần ở Hàm Dương nhưng trước sức ép lớn, Lưu Bang buộc phải nhân nhượng, mở cửa thành để quân Hạng Vũ kéo vào. Lần thứ hai, trước tình hình bị vây khốn ở bàn tiệc Hồng Môn, thấy nguy cơ sẽ bị giết trong gang tấc, ông phải tìm đường tháo chạy. Lần thứ ba, để tránh sự nghi kị, sẽ không có lợi cho ý định lâu dài, Lưu Bang đành phải nghiêm túc làm theo lệnh Hạng Vũ, vào trấn giữ vùng đất Hán Trung hẻo lánh, dù phải để bố đẻ cùng gia quyến, 125 người, ở lại làm con tin. Lần thứ tư, sau khi chiếm lại Hàm Dương, vì chủ quan, không nghe lời can ngăn của Trương Lương và Hàn Tín, Lưu Bang vẫn cất quân Đông chinh nên đã bị thất bại lớn ở Truy Thủy, để mất Bành Thành, vợ và bố đẻ bị bắt lại, còn bản thân ông thì quân sĩ phò tá thất tán, phải một mình một ngựa chạy dài. Lần thứ năm, tại Huỳnh Dương, trong tình hình "ngàn cân treo sợi tóc", ông phải dùng một bộ tướng là Kỷ Tín mặc áo long bào, lừa cho Hạng Vũ bắt nhầm, nhằm đánh lạc hướng để thoát thân. Lần thứ sáu, không có phương sách nào hơn là phải rời Thành Cao rút lui thì mới có cơ may tìm được con đường sống. Lần thứ bảy cũng vậy, cách tự cứu nguy tốt nhất là bỏ Cố Lăng, lợi dụng đêm tối chạy trốn. Lần thứ tám, trước cán cân lực lượng còn nghiêng nhiều về phía đối phương, Lưu Bang buộc phải cắt đất Hồng Châu, giao ước giảng hòa tạm thời với Hạng Vũ, làm kế quyền biến để rồi ngay sau đó, chuyển hẳn sang thế tiến công, giành thắng lợi cuối cùng. Mãi cho đến năm thứ năm (202 trước Công nguyên), sau trận quyết chiến ở Cai Hạ, Lưu Bang mới diệt được Hạng Vũ, lên ngôi hoàng đế-tức Hán Cao Tổ-bắt đầu sự nghiệp nhà Hán.
Những thất bại cùng những cuộc chạy dài thoát thân liên tiếp của Lưu Bang đã trở thành một điển tích trong lịch sử chiến tranh của Trung Quốc thời cổ, trung đại. Người Việt Nam xưa thường liên hệ, so sánh những cuộc tháo chạy của Lưu Bang với những cuộc chạy dài của nhiều đạo quân xâm lược trong các cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta. Chẳng hạn như, trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1075-1077, khi biết rõ quân xâm lược Tống đang cực kỳ nguy khốn, không đủ sức chống đỡ cuộc tiến công sắp tới của quân ta, Lý Thường Kiệt liền cử người mang thư sang trại giặc, buộc Quách Quỳ phải chấp nhận đầu hàng. Trước tình hình đó, đang đêm, quân Tống hoảng hốt, phá vòng vây tìm đường tháo chạy. Được tin, Lý Thường Kiệt lập tức ra lệnh truy kích. Quân xâm lược rút lui trong tình hình hỗn loạn, giẫm đạp lên nhau (Tống sử), lại bị quân ta ngăn chặn, đuổi đánh quyết liệt, đội hình của chúng bị cắt rời thành từng đoạn, đầu đuôi không ứng cứu được nhau. Do đó, đạo quân bại trận bị tiêu diệt gần hết. Chủ tướng giặc chỉ còn một số thân binh, liều mạng mở đường máu, cố vượt ra khỏi biên giới Đại Việt. Số quân Tống chiếm đóng tại Môn Châu, Quang Lang, Tô Mậu, Tư Lang, thấy quân ta đuổi đến, cũng bỏ cả đồn trại, theo đạo quân thu chạy, tìm đường về nước.
Hay như ở thế kỷ XIII, dân tộc ta phải liên tiếp chống lại ba cuộc chiến tranh xâm lược của quân Mông-Nguyên. Trong đó có quy mô lớn nhất là cuộc chiến tranh năm 1285. Tại cuộc chiến tranh rất không cân sức này, 60 vạn quân địch đã hùng hổ kéo vào nhưng rồi cuối cùng đã bị đánh bại. Về việc này "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" ghi chép: "Quân Nguyên nhiều lần bị thua, lại gặp mùa hè mưa, nắng thất thường, quân sĩ chết hại rất nhiều, mới quyết kế rút lui về nước. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn dự bị đặt quân mai phục để đón đường ra đánh. Khi quân Nguyên đến sông Vạn Kiếp, chưa kịp sang đò, quân mai phục liền nổi lên đánh, quân sĩ nhà Nguyên chết mất quá một nửa, tướng sĩ phải liều chết chống cự, mới hộ vệ Thoát Hoàn được khỏi chết".
Còn như cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc ta ở thế kỷ XV thì vào cuối năm 1427 đã thu được thắng lợi cực kỳ to lớn. Để đối phó, triều đình nhà Minh đã vội vàng cử hai đạo viện binh, gồm 15 vạn người, chia thành hai ngả, tiến vào đất Giao Chỉ. Trước tình hình đó, quân ta chủ trương tập trung binh lực, tiêu diệt đạo quân 10 vạn người, do Liễu Thăng chỉ huy, còn đạo quân 5 vạn người, dưới sự chỉ huy của Mộc Thạnh, thì chỉ sử dụng một lực lượng vừa đủ để kiềm chế. Sau khi đạo quân Liễu Thăng bị đánh bại, Lê Lợi và Nguyễn Trãi liền sai một số tù binh vừa mới bị bắt, mang bằng sắc, ấn tín của viên tướng kiêu ngạo đã tử vong này và một bức thư đến tận doanh trại quân Mộc Thạnh, báo cho chúng biết cái tin chẳng lành đó. Nhận được thư, lại nhìn thấy ấn tín, bằng sắc của Liễu Thăng, đồng thời biết được Lương Minh, Lý Khánh tử trận, Mộc Thạnh vô cùng hoang mang, bối rối. Cả đạo quân, từ chủ tướng đến binh lính "kinh sợ mà trước đã vỡ mật". Đang đêm, Mộc Thạnh vội vàng đem quân rút chạy về nước. Do đã chuẩn bị sẵn sàng, quân ta lập tức đuổi theo. Tại Lãnh Câu, Đan Xá (Hà Giang), quân ta đã thắng lợi, diệt hơn một vạn tên địch, bắt sống một ngàn tên cùng một ngàn con ngựa và thu được rất nhiều chiến lợi phẩm.
Từ những cuộc thảm bại, chạy dài đó cộng với mọi kiểu rút quân tương tự, qua nhiều thế kỷ, đã dần dần lắng đọng trong tiếng Việt thành ngữ "chạy rống Bái Công". Thành ngữ đó chỉ một hành động quân sự, dưới hình thức một cụm từ hỗn hợp, gồm hai từ thuần Việt "chạy rống" và hai từ gốc Hán "Bái Công", đồng thời mang theo một nghĩa châm biếm là chạy rất nhanh, rất nhiều, chạy một cách hộc tốc, hốt hoảng, rong ruổi khắp nơi, lang thang suốt ngày, suốt tháng để tháo thân như Bái Công. "Bái Công" chính là Lưu Bang vì quê ông ta ở huyện Bái. Chỉ có điều, sau 8 lần chạy rống, Lưu Bang đã thành công, còn các đạo quân xâm lược Việt Nam, trước sau đều chịu thất bại.
DƯƠNG XUÂN ĐỐNG