Làng Tả Thanh Oai, tên nôm là làng Kẻ Tó hay Tó Tả, nằm ở trung điểm đoạn đường 70 Hà Đông -Văn Điển. Sách Lịch sử địa yếu địa lý, mục địa lý, ghi: “
Làng Tả Thanh Oai, đất do sông Tô dẫn mạch, miếu do sông Nhuệ bồi cơ, danh đăng khoa giáp, thế phiệt thi thư, quý mà không phú” hay “
Làng Tả Thanh Oai, rồng chầu thước ngọc, nước chảy quanh co, hai bên đối chầu, chủ khách cùng phát đạt, trâm anh bất tận, khoa mục thịnh hưng, nhờ có quần thể núi đồi chiếu soi mà các đời đều có khoa nguyên, khoa giáp. Chỗ quan yếu không ngưng tụ nên có Quan Mã, không giữ tài lộc nên dân phần lớn nghèo khó, ít có phú quý, có phú quý cũng không lâu bền được. Đó là địa thế tự nhiên vậy. Cho nên dân phần nhiều là kẻ sĩ sính về đường học, coi là việc hàng đầu, còn đua nhau cầu lợi, lo tích trước sau đều không phải là địa thế ở đây”. ở cổng đình và trong đình làng còn đôi câu đối nói về thế đất khoa bảng và “địa linh nhân kiệt” của làng: “
Chu lĩnh đất Tam Thai, địa xuất hầu vương bằng hiển tướng. ánh sơn chiều Bát Đẩu, thiên chung khoa giáp lại âm phù”. Nghĩa là: “
Núi Chu sánh với Tam Thai, đất nổi vương hầu và tướng giỏi. Non ảnh chầu Bát Đẩu, trời sinh khoa giáp cậy giúp ngầm”.
Về địa lý hành chính, cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, làng (cũng là xã) Tả Thanh Oai thuộc tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ ứng Thiên (đời vua Minh Mửnh đổi thành phủ ứng Hòa), trấn Sơn Nam Thượng, (từ năm 1831 là tỉnh Hà Nội, năm 1838, thuộc tỉnh Cầu Đơ, đến năm 1904, đổi thành tỉnh Hà Đông). Sau cách mạng Tháng 8-1945, Tả Thanh Oai vẫn là một xã độc lập. Tháng 2-1949, làng nhập với các làng Siêu Quần, Thượng Phúc, Nhân Hòa thành xã Đại Thanh, huyện Liên Nam (sau đổi là huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây). Cuối năm 1978, xã được cắt về huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Dưới thời phong kiến, Tả Thanh Oai nổi tiếng là làng khoa bảng với 12 tiến sĩ, nhiều Hương cống, Cử nhân, Tú tài, Sinh đồ; là một trong 21 làng có 10 tiến sĩ trở lên của cả nước, một trong 5 làng khoa bảng của đất Thăng Long, Hà Nội. Trong số 12 người đỗ đại khoa thì có 1 người làm Tham tụng (Ngô Đình Thạc), 1 Bồi tụng kiên Thượng thư (Ngô Đình Chất), 1 Thượng thư (Ngô Thì Nhậm), 2 người phụng mệnh đi sứ (Ngô Đình Thạc, Ngô Thì Nhậm). Một số người có những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục như Nguyễn Khánh Dung làm Tể tửu Quốc Tử Giám. Ngô Vi Thực cùng Thám hoa Vũ Thạnh đứng ra chấn chỉnh, khôi phục lại thể văn đời Hồng Đức (1470-1497). Ngô Đình Chất cùng Trần Huy Mật được chúa Trịnh Doanh tin cậy giao cho nhiệm vụ ra đề thi trong kỳ thi lại các Cống sĩ mới đỗ ở lầu Ngũ Long (do kỳ thi trước dưới thời Trịnh Giang ra thể lệ nộp tiền để đi thi, học trò chạy chọt, quan trường lại coi thường kỷ cương nên có hơn 200 người thi đỗ mà phần nhiều không đúng lực học, Trịnh Doanh bắt phải thi lại).
Có 2 người được triều đình tin cẩn giao cho trọng trách xây dựng và bảo vệ vùng biên giới Lạng Sơn là Ngô Đình Thạc và Ngô Thì Sĩ. Ngô Đình Thạc đã tỏ rõ khí tiết khẳng khái của kẻ sĩ chân chính. Nguyên là khoảng cuối năm 1739, ông giữ chức Tham tụng, Hộ bộ Thượng thư, được đặc phái lên làm Trấn thủ Lạng Sơn. Tháng 3 năm 1740, tù trưởng người địa phương là Toản Cơ làm phản, đem quân đến vây đánh Đoản Thành (trấn thành Lạng Sơn). Lúc ấy trong thành không có binh lính, có người khuyên ông chạy trốn, nhưng ông khẳng khái: “Chức phận của ta là ở chỗ giữ lấy đất của triều đình. Ta phải sống chết với thành này, toan chạy đi đâu? ” … Rồi bị sa vào tay giặc, được truy tặng hàm Thiếu bảo. Sử cũ ghi lại “Đình Thạc giữ tiết tháo, không chịu khuất phục, để chết”. Ngô Thì Sĩ làm Đốc trấn Lạng Sơn, xin dời Đoàn Thành đang ở nơi ẩm thấp lên nơi cao ráo, bằng phẳng trên núi Lộc Mã, một vị trí phòng thủ tốt, đề thơ khắc vào thành đá. Ông còn có công lớn trong việc mở mang động Nhị Thanh.
Có 2 người làm quan dưới triều Tây Sơn là Nguyễn Nha và Ngô Thì Nhậm. Đặc biệt, Ngô Thì Nhậm được Nguyễn Huệ rất tin dùng, bổ chức Lại bộ Tả Thị lang, tước Tình Phái hầu, cùng với Ngô Văn Sở cai quản công việc binh dân Bắc Hà. Khi quân Thanh sang xâm lược nước ta (cuối năm Mậu Thân-1788), ông cùng Ngô Văn Sở sáng suốt đề ra chủ trương rút lui vào Tam Điệp, tạo điều kiện cho Quang Trung nhanh chóng tiêu diệt 29 vạn quân Thanh, ít hao binh tổn tướng, giải phóng kinh thành Thăng Long. Từ sau Tết Kỷ Dậu (1789), ông đảm trách công việc ngoại giao với nhà Thanh. Năm 1790, thăng Binh bộ Thượng thư, tước Phương Quận công. Ông còn là Tổng tài Quốc sử quán, tổ chức biên soạn quốc sử. Ông cũng có một số đóng góp xây dựng làng Tả Thanh Oai như mở chợ, nắn lại đường, xây văn chỉ mà sách lsđyđl đã ghi nhận.
Hà Thành