Xây dựng nền công nghiệp văn hóa hàng đầu
So với Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, được phê duyệt năm 2016, chiến lược mới đã thay đổi căn bản. Ví dụ, nếu trước đây chỉ đặt mục tiêu chung chung là CNVH tạo ra nhiều việc làm thì trong chiến lược mới, lần đầu tiên đã lượng hóa lực lượng lao động trong các ngành CNVH chiếm tỷ trọng 6% trong tổng lực lượng lao động của nền kinh tế vào năm 2030 và 8% vào năm 2045. Chiến lược mới còn thu gọn CNVH Việt Nam có 10 ngành (so với 12 ngành trước đây) và tập trung vào 6 ngành trọng tâm, trọng điểm là: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, phần mềm và các trò chơi giải trí, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa.
Chiến lược mới cũng đặt ra những mục tiêu rất cao, như: Doanh thu đóng góp 9% GDP vào năm 2045; tốc độ tăng trưởng về giá trị xuất khẩu của các ngành CNVH bình quân đạt 7%/năm vào năm 2030 và 9%/năm vào năm 2045; tốc độ tăng trưởng về số lượng các cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành CNVH bình quân đạt 10%/năm... Các chỉ số nói trên tương đồng với chỉ số của nền CNVH của các quốc gia phát triển trên thế giới hiện nay. Cho nên, dễ dàng nhận thấy quyết tâm của Nhà nước mong muốn: Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), nước ta có nền CNVH hàng đầu, có sức ảnh hưởng đến khu vực và thế giới, trở thành lĩnh vực tăng trưởng sáng tạo làm bệ đỡ cho nền kinh tế.
 |
Thủ công mỹ nghệ là ngành công nghiệp văn hóa có giá trị xuất khẩu cao của Việt Nam. Ảnh: PHẠM ĐÌNH THÀNH
|
Chiến lược mới cũng thể hiện tầm nhìn xa, có tính dự báo khi đặt mục tiêu quy mô các sản phẩm CNVH số chiếm tỷ trọng trên 80% sản phẩm CNVH. Con số này phù hợp với thực tế đang biến chuyển khi các hoạt động đời sống nói chung, văn hóa nói riêng gắn chặt với quá trình chuyển đổi số. Nhiều sản phẩm văn hóa ngày nay không cần thông quan, không cần kho bãi, mà đi thẳng đến công chúng chỉ bằng một cú nhấp chuột. Nếu chúng ta biết tận dụng các nền tảng số thì chi phí sẽ giảm mạnh, còn sức lan tỏa lại tăng lên gấp bội.
Tiến sĩ Trần Thị Thủy, Viện Nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho rằng: Chiến lược mới đã rõ ràng và rất đầy đủ. Vấn đề cốt lõi là các bộ, ngành, địa phương cần có kế hoạch cụ thể, sáng tạo thực hiện chiến lược theo đúng quan điểm, đó là: “Phát triển các ngành CNVH Việt Nam là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, toàn xã hội và là đầu tư cho sự phát triển bền vững đất nước; bảo đảm hài hòa giữa các mục tiêu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, khoa học kỹ thuật”.
Tiên phong mở đường
Một trong những mục tiêu chiến lược mới đề ra là phải xuất khẩu các sản phẩm CNVH. Đây là một quyết định thể hiện kết quả của cả quá trình phát triển về tư duy; một khía cạnh quan trọng minh chứng CNVH Việt Nam phát triển theo chiều sâu. Phó giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng: Khi năng lực kinh tế-xã hội đạt đến một trình độ nhất định, CNVH sẽ trở thành động lực mới cho tăng trưởng và sức mạnh mềm quốc gia. Việt Nam hiện đã hội đủ nhiều điều kiện: Quy mô nền kinh tế lớn thứ tư ASEAN, tầng lớp trung lưu tăng nhanh, hạ tầng số phát triển mạnh, môi trường sáng tạo ngày càng cởi mở, cùng với đó là hệ giá trị văn hóa đặc sắc, lâu đời, độc đáo, có khả năng “chạm” tới cảm xúc của bạn bè quốc tế. Vì vậy, đặt mục tiêu xuất khẩu văn hóa lúc này là bước đi hợp quy luật, phù hợp với tầm vóc mới của đất nước.
Con số doanh thu từ xuất khẩu CNVH trực tiếp tất nhiên rất quan trọng, song theo các chuyên gia, điều quan trọng không kém là hình ảnh Việt Nam được thế giới nhận diện ra sao, đất nước và con người Việt Nam quyến rũ, thu hút bạn bè quốc tế như thế nào? Khi công chúng quốc tế say mê sản phẩm CNVH, chắc chắn họ sẽ có thiện cảm với đất nước Việt Nam, sẵn sàng chi tiền đi du lịch, tin tưởng các mặt hàng xuất khẩu của nước ta. Các quốc gia phát triển đi trước đều đã thành công ở cách làm sử dụng văn hóa đi trước, mở đường cho chính trị, kinh tế.
So với 10 năm về trước, CNVH Việt Nam đã xuất hiện các sản phẩm văn hóa, gương mặt nghệ sĩ được công chúng quốc tế biết đến, song số lượng và mức độ ảnh hưởng vẫn khiêm tốn. Trong nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, các chuyên gia quốc tế khi tư vấn cho Việt Nam đều nhấn mạnh: Cần nghiên cứu thị hiếu công chúng quốc tế, đưa ra các sản phẩm thời thượng. Ngay khi lên kế hoạch sản xuất một sản phẩm CNVH, không nên nghĩ sẽ chỉ tiêu thụ trong nước mà phải nghĩ đến việc bán sản phẩm ra toàn cầu. Đồng thời, cần bắt tay thực hiện các sản phẩm dễ tiêu thụ, như: Sách thiếu nhi, phim hoạt hình, phim truyền hình, video ca nhạc... Thay đổi tư duy làm sản phẩm thực chất gắn với quá trình đào tạo nhân lực mới cho các ngành CNVH.
Để giá trị xuất khẩu CNVH tăng trưởng liên tục và bền vững rất khó dựa vào quy mô, tiềm lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như hiện nay. Do vậy, muốn xuất khẩu văn hóa, trước tiên phải xuất khẩu được niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường sáng tạo của Việt Nam. Trước hết là hoàn thiện thể chế và hạ tầng cho kinh tế sáng tạo. Văn hóa chỉ có thể xuất khẩu khi nó thực sự trở thành ngành kinh tế vận hành theo quy luật thị trường. Điều này, đòi hỏi các chính sách về sở hữu trí tuệ, thuế, đặt hàng-đấu thầu trong lĩnh vực sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm cho CNVH, cơ chế hợp tác công-tư... phải thật thông thoáng và khuyến khích đổi mới.
Vai trò của Nhà nước cũng cần phải xác định rõ ở khía cạnh đầu tư vật chất làm “vốn mồi”, đồng thời là sự quan tâm, động viên các nghệ sĩ, nhà sản xuất vững tin chinh phục thị trường quốc tế. Việt Nam cần có những sản phẩm CNVH mang thương hiệu quốc gia để nâng cao năng lực cạnh tranh; muốn vậy phải gắn chặt với công tác truyền thông, quảng bá quốc gia, ngoại giao văn hóa và hợp tác quốc tế. Đây là những điều khối tư nhân không thể tự mình làm được mà cần sự kết hợp công-tư.
Tất cả những giải pháp chỉ thực sự hiệu quả khi chúng ta kết nối được Nhà nước-doanh nghiệp-nghệ sĩ-cộng đồng. Nhà nước tạo thể chế; doanh nghiệp đầu tư và tổ chức sản xuất; nghệ sĩ sáng tạo; cộng đồng gìn giữ và lan tỏa giá trị. Khi 4 chủ thể này cùng hướng về một mục tiêu chung thì xuất khẩu văn hóa không chỉ là câu chuyện kinh tế mà còn là hành trình khẳng định vị thế và tâm thế của một dân tộc đang vươn mình ra thế giới bằng sức mạnh mềm.