QĐND - Ngồi trước tôi là nhà thơ Thạch Quỳ, người con của huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Ở đó, làng Đông Bích, xã Trung Sơn quê ông có ngọn Quỳ Sơn mà người dân thường gọi bằng cái tên giản dị rú Cuồi, nơi tuổi ấu thơ của Thạch Quỳ đã trôi qua với những buồn vui ngày chăn trâu cắt cỏ. Rú Cuồi có rất nhiều đá, Thạch Quỳ thường ngồi trên những tảng đá ấy sáng tác thơ. Cái tên “Thạch Quỳ” bắt nguồn từ kỷ niệm thời nhỏ ấy, ông đã chọn nó để hoài niệm về mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình. Giờ đây, tôi đang ngồi với ông trong căn nhà ở Phong Định Cảng, thành phố Vinh, nhưng trong ánh mắt Thạch Quỳ dường như luôn ánh lên những hoài nhớ về vùng đất ấy…
Từ thời học lớp 7, Thạch Quỳ đã lặng lẽ chọn một góc nhỏ ở rú Cuồi ngồi viết tiểu thuyết, gửi cho Nhà xuất bản Thanh Niên nhưng không được in. “Có lẽ vì những trang viết ngày đó quá ngô nghê”, ông nói. Sự khước từ đầu tiên ấy của văn học không khiến ông nản lòng, nhưng có lẽ từ buổi ấy, ông cũng nhận ra một điều rằng, thơ là lối đi phù hợp hơn với mình. Năm 1960, Thạch Quỳ vào học Đại học Sư phạm Vinh. Cùng năm này, bài thơ đầu tiên được đăng trên tạp chí có uy tín của văn học nước nhà (Tạp chí Văn nghệ quân đội) có nhan đề và nội dung khá bình thường đơn giản: “Mà thương cũng nhiều”. Nhớ lại cảm giác lúc đó, ông cười lớn: “Nước ta những năm 60 rừng rậm và hổ nhiều, khắp nơi nơi tuyên truyền, cổ động cho việc diệt hổ. Bài thơ “Mà thương cũng nhiều” của tôi biểu dương anh bộ đội diệt hổ. Ngày đó là như vậy, chứ giờ thì hổ trở thành vật cần được bảo tồn rồi. Dù sao ngày ấy được đăng thơ, giống như những người khác được đăng lần đầu, tôi xúc động lắm, cứ ngắm nghía trang thơ in bài của mình, đọc đi đọc lại mãi”.
Những năm 1965-1966 là thời gian Thạch Quỳ “viết dày” nhất. Năm 1967, ông ra tập thơ đầu tiên: “Sao và đất”. Tiếp đó, cứ vài năm ông lại xuất bản một tập mới: “Tảng đá nhành cây” (1973), “Điệu hát nguồn sống và đất” (1978), “Nguồn gốc cơn mưa” (1978), “Con chim tà vặt” (1986), “Cuối cùng vẫn một mình em” (1986), “Đêm Giáng sinh” (1990); và gần đây nhất là tập “Bức tường” (2009). Không phải là người viết nhanh và nhiều, nhưng mỗi tập thơ, mỗi bài thơ được Thạch Quỳ chọn lựa, sửa sang cẩn trọng về cả nội dung và hình thức. Từ những trang viết “ngô nghê” của cuốn tiểu thuyết không được in, đến bài thơ đầu tiên được đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, cho đến tận những bài thơ gần đây là cả một quá trình tìm tòi, suy ngẫm về văn học của Thạch Quỳ. Quan niệm thơ phải ghi dấu phong cách và sự tìm tòi riêng của tác giả, Thạch Quỳ không cho phép mình có những chọn lựa quá dễ dàng. Trong một bài trả lời phỏng vấn, ông từng nói: “Thời đại là gió, nhưng nhà thơ không phải là con diều giấy”. Giải thích thêm cho tôi về điều này, ông nói: “Văn học chẳng xu thời cho dù nó có tính thời đại. Văn học có vấn đề của thời đại nhưng đồng thời phải mang vấn đề của nhân loại. Chỉ khi ấy văn học mới vượt qua những thử thách của thời gian để trở nên bất diệt”. Và theo Thạch Quỳ, vai trò cá nhân của tác giả là ở chỗ phải “có một tư duy riêng biệt”. Khái niệm về thơ luôn biến đổi, nó gần như không có sẵn và không đúng với tất cả mọi người. Bởi vậy, “mỗi bài thơ, mỗi cuốn tiểu thuyết chỉ là một mô hình về thơ, về tiểu thuyết để giúp bạn đọc hình dung ra thơ và tiểu thuyết mà thôi”.
Khi được hỏi về văn học hiện nay, Thạch Quỳ lắc đầu: “Bây giờ có nhiều người cầm bút dễ dãi, đơn giản quá. Người nào cũng có thể làm thơ, người nào cũng có thể được giải nọ giải kia… Có nhà thơ X. nọ là bạn của tôi, viết thơ không những không hay mà còn phản cảm, vậy mà vẫn được in, được khen…”. Thạch Quỳ tỏ ra rất bức xúc với việc người ta đang biến văn học thành nơi hỗn tạp, trong đó chứa cả những thứ phi văn học. Ông nói một cách dứt khoát: “Chúng ta phải tránh cho văn học những ngộ nhận”. Nhìn những nếp nhăn trên gương mặt Thạch Quỳ, tôi thấy được những nhọc nhằn của cả một cuộc đời, không phải là của cuộc đời chăn trâu cắt cỏ trên ngọn núi có nhiều đá ấy, mà là của một đời mải miết tìm kiếm chân lý cho văn chương. Cũng có lẽ, cả một đời thơ của mình, ông đã tìm kiếm để chối từ những ngộ nhận.
Thùy Vinh