Không còn quanh tôi cái ồn ào náo động của thị thành, cái bon chen khói bụi và vội vã. Giờ đây, chỉ có núi non, cây rừng và gió. Trời như gần lại trong khoảng không gian mờ sương, na ná một buổi sớm mai hoặc chiều muộn.

Bụi bặm và mỏi mệt, chiếc xe dừng lại trước cửa UBND xã Trung Lý, huyện Mường Lát. Tiếp đón chúng tôi với nụ cười niềm nở là đồng chí Phạm Văn Tôn, Phó bí thư Đảng ủy xã-một Thiếu tá biên phòng được tăng cường cho địa phương. Chỉ những ai đã trải qua cuộc sống nơi biên cương, với núi rừng, với dân bản, đối đầu với tội phạm, những khó khăn của cuộc sống, vượt lên tất cả mới có được phong thái, nụ cười như thế. Bình thản, tự tin, khi biết tôi là nhà văn trẻ, đã từng đi lại nhiều lần tuyến đường 520 về Mường Lát, anh hồ hởi: “Nhà văn đi lên đây thì nhiều cảm xúc lắm. Anh em chúng tôi đây, người thật việc thật nhé. Cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng vui lắm. Nhà văn muốn tư liệu gì? Ở đây, bảo đảm gì chứ những câu chuyện biên cương luôn đầy ắp: Nắng, gió, mưa lũ, rét mướt, tập quán vùng cao, đồ ăn thức uống, giao thông đi lại…".  Tôi ngỏ ý hỏi chuyện xây dựng Đảng ở xã Trung Lý. Anh giở ngay sổ công tác đưa cho tôi. Trước năm 2008, địa bàn Trung Lý 16 bản thì có tới 12 bản "trắng" đảng viên. Anh dừng lại nhìn tôi, trong mắt anh, tôi nhận ra những hình ảnh của những ngày, tháng căng mình trên từng cột mốc biên giới, qua những bản làng thưa thớt và hoang vu. Có gió, có mưa và những nhọc nhằn. Trung Lý là xã vùng cao của huyện Mường Lát, dân cư thưa thớt, giao thông đi lại khó khăn, rừng sâu, núi thẳm, giáp ranh biên giới, tỷ lệ đồng bao Mông cư trú cao. Người Mông kết hôn sớm, trình độ học vấn thấp, quê gốc ở Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, có truyền thống di cư, qua nhiều địa phương nên việc thẩm tra lý lịch gặp không ít khó khăn. 12 bản người Mông ở Trung Lý di cư từ phía Bắc vào năm 1990, chỉ duy nhất một đảng viên, kết nạp năm 2004. Khó khăn chồng chất như thế là những thử thách không nhỏ cho công tác xây dựng, phát triển Đảng.

leftcenterrightdel
 Minh họa: Tô Ngọc.
Tôi nóng lòng muốn được nghe câu chuyện của anh. Anh Tôn gật đầu và chậm rãi nói, là sĩ quan biên phòng trên địa bàn, năm 2008, anh được điều về tăng cường cho xã Trung Lý, đảm nhận cương vị Phó bí thư Đảng ủy. Nhận nhiệm vụ trong điều kiện khó khăn, nhưng anh quyết hoàn thành. Thời gian đầu, anh đã đến từng bản làng người Mông, nắm bắt tình hình, phát hiện những quần chúng có hướng phấn đấu tốt, xin ý kiến lãnh đạo tổ chức các lớp bồi dưỡng cảm tình Đảng tại Trung tâm Chính trị huyện. Năm 2008, địa phương bồi dưỡng, thẩm tra (ở Lào Cai, Yên Bái, Sơn La), kết nạp được 8 quần chúng người Mông vào Đảng, nâng số đảng viên ở 12 bản người Mông lên con số 9. Tuy nhiên, 9 đảng viên trên 12 bản, mỗi bản chỉ một hoặc có bản không có đảng viên nên không thành lập được chi bộ, phải sinh hoạt chi bộ ghép. Thế rồi với quyết tâm xóa tình trạng trắng đảng viên và sinh hoạt ghép, từ năm 2008 đến nay, cấp ủy các cấp ở Trung Lý đã bồi dưỡng 135 quần chúng, tổ chức thẩm tra, kết nạp được 112 đảng viên, thực hiện thành công nhiệm vụ xóa bản trắng đảng viên và sinh hoạt chi bộ ghép trước một năm so với kế hoạch của Tỉnh ủy. Kết quả đó phản ánh tinh thần trách nhiệm, ý chí, quyết tâm của Đảng bộ xã Trung Lý, Huyện ủy Mường Lát.

Chén rượu đêm ấm hơn cùng với những ký ức khó quên của anh Tôn. Anh kể, một lần, đi xác minh lý lịch quần chúng người Mông ở xã Na Hối, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Khi đến nơi, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đã về nhà, mang theo con dấu để bảo đảm an toàn, thứ hai mới đến trụ sở xã. Vậy là, muốn xác nhận chỉ có cách đến nhà. Lặn lội đến nhà Bí thư Đảng ủy xã, được tin đồng chí đi trồng luồng trong rẫy, cách nhà 7 cây số. Vào rẫy, nhưng đồng chí bí thư bảo phải trồng xong luồng mới giải quyết công việc. Thế là, anh xắn tay cùng trồng luồng với bí thư. Tối về nhà, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Na Hối rót ra hai bát rượu ngô Bắc Hà bắt anh uống hết mới đóng dấu xác nhận. Hai bát rượu này được giải thích: “Một bát cảm ơn vì đã trồng luồng giúp, một bát phạt vì... độ lỳ của chú”. Sau khi xin được xác nhận, trời đã tối, phải đi địa bàn khác, nhưng anh cảm thấy niềm vui dâng trào...

Câu chuyện của chúng tôi vẫn chưa dừng lại, đêm còn dài, từ khoảng sân của UBND xã, nhìn lên bầu trời đêm, phía Pù Lộc Cộc, tôi thấy những ngôi sao lấp lánh. Dải biên cương này, rừng cây, con suối, dòng sông Mã gào thét ngoài kia, những con người thầm lặng bên cạnh tôi đây, sao đáng quý, đáng yêu và đáng khâm phục quá đỗi. Trầm ngâm bên chén rượu và hứng những giọt sương đêm, anh tâm sự, công tác nơi vùng biên cương này, cùng sống với đồng bào thiểu số, trong những hoàn cảnh khó khăn về nhiều mặt, cần lắm những con người biết hy sinh, biết vượt lên để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trung Lý đã không còn tình trạng trắng đảng viên hay sinh hoạt chi bộ ghép, điều đó là niềm vui của xã, của huyện, của tỉnh, trong đó có niềm vui của anh. Bởi, trước hết, là người đảng viên, Phó bí thư Đảng ủy xã, sĩ quan biên phòng, anh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Những phần thưởng, danh hiệu, bằng khen và giấy khen của tỉnh, huyện là những ghi nhận của các cấp với công tác xây dựng Đảng ở Trung Lý. Tuy nhiên, quan trọng hơn tất cả, anh được nhân dân, đồng bào yêu thương, đùm bọc, tin tưởng. Thế là vui rồi, phải không? Lặng nhìn anh, tôi chợt như thấy ngôi sao phía cổng trời trong đôi mắt người cán bộ nhiệt thành, tận tụy ấy. Những ngôi sao sáng lên niềm tin nơi biên cương Tổ quốc.

Ghi chép của KHẢI THIỆN