QĐND - Liên hoan sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc – 2012, diễn ra tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vừa qua, là nơi hội tụ những tinh hoa của nghệ thuật cải lương đương đại, với 27 vở diễn của 22 đoàn nghệ thuật cải lương chuyên nghiệp toàn quốc. Hoạt động này được coi như một cuộc “sát hạch” của những tìm tòi, thể nghiệm, góp phần tìm hướng đi mới cho nghệ thuật cải lương trong bối cảnh khó khăn kéo dài. Nhưng...

Xưa nay, nói đến nghệ thuật cải lương, người ta đã mặc định cho nó một từ “sến”, dù bản chất của cải lương, theo GS, TS Trần Văn Khê, nghĩa là “sửa đổi để trở nên tốt hơn”. Cải lương là hình thức nghệ thuật được phát triển, cải tiến, nâng cao từ cái gốc đờn ca tài tử, sau đó là hình thức ca ra bộ. Vốn nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ đã ngự trên “ngai vàng” của đời sống văn hóa tinh thần người dân phương Nam suốt từ cuối thế kỷ 19 đến những năm đầu thập niên 90, thế kỷ 20, được tiếp biến, phát triển rộng khắp cả nước.

Từ khi đất nước mở cửa, với sự du nhập, phát triển ồ ạt của các loại hình nghệ thuật giải trí thời thượng, cải lương cùng nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, dân tộc dần mất chỗ đứng trong lựa chọn của số đông khán giả. Và hơn 1 thập kỷ lại nay, cải lương rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Hàng loạt những đoàn nghệ thuật cải lương phải “khai tử”. Hàng trăm diễn viên phải từ bỏ niềm đam mê ánh đèn sân khấu, bươn chải mưu sinh...

Đã có nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo, nhiều đề tài khoa học bàn về đổi mới cải lương để tìm cơ hội tồn tại, phát triển. Và một trong những vấn đề cốt lõi được những người làm nghề thống nhất coi là “cứu cánh” cho cải lương, chính là phải hiện đại hóa cải lương, đưa được hơi thở cuộc sống đương đại vào nghệ thuật truyền thống, nội dung vở diễn phải chạm đến những vấn đề “nóng” mà đời sống xã hội đặt ra.

Cảnh trong vở “Nỗi đau sợi tơ đồng”- Đoàn Cải lương Tiền Giang

Trong quy chế tổ chức liên hoan lần này do ông Vương Duy Biên, Thứ trưởng Bộ VH-TT và DL kiêm Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn ký, đã nêu rõ: Tiêu chí bắt buộc của liên hoan là tác phẩm phải phản ánh về đề tài hiện đại, có nội dung, tư tưởng rõ ràng... Các tác phẩm có sự tìm tòi, sáng tạo mới về phương pháp nghệ thuật, hình thức thể hiện, nhưng phải giữ được đặc trưng của loại hình nghệ thuật cải lương.

Như vậy, cuộc liên hoan có ý nghĩa như một đợt “sát hạch” cho những sáng tạo, tìm tòi, đổi mới. Mỗi đoàn đem đến một hoặc vài “món” ngon nhất và mới nhất, tạo nên những “bữa tiệc” thịnh soạn về sân khấu cải lương, chờ xem phản ứng từ khán giả thế nào để có thể góp phần bổ sung, định hình một hướng đi mới.

Ai cũng thấy độ “nóng” của đề tài qua tiêu đề các vở diễn, mà nếu không giới thiệu, rất có thể nhiều người sẽ lầm tưởng đó là tên của những bộ phim... ăn khách. “Ma lực đồng tiền” (Đoàn Cải lương Ánh Hồng, Trà Vinh); “Món nợ vùng ven” (Nhà hát Tây Đô, Cần Thơ); “Cơn hồng thủy” (CLB sân khấu xã hội hóa Sen Việt); “Người thi hành án tử” (Đoàn Cải lương Thái Bình); “Đi qua tâm bão” (Đoàn Cải lương Đồng Nai) v.v.. Nhiều vở diễn có đề tài đấu tranh chống tiêu cực đã có cách thể hiện khá táo bạo, mang đến những cảm xúc tươi mới, hấp dẫn người xem.

Nhưng đó chỉ là một mặt của vấn đề. Tiếp cận với cái mới, ngay trong đội ngũ những người làm nghề cũng đã xảy ra tranh luận trái chiều. Nhiều người cho rằng nên giữ lại phong cách cũ, thực hiện các đề tài cổ trang, lịch sử... vốn đã trở nên quen thuộc của cải lương xưa nay. Đến với đề tài đương đại, khó khăn lớn nhất của hầu hết các đoàn là kịch bản.

Nhà biên kịch Phạm Văn Quý (Hà Nội) thừa nhận: Các tác giả viết kịch bản cải lương hiện nay trên cả nước đếm không quá mười đầu ngón tay. NSƯT, đạo diễn Trần Minh Ngọc (TP Hồ Chí Minh) cũng cho rằng: Người viết cải lương đã khó, lại ngày một thưa vắng dần. Khủng hoảng kịch bản là căn bệnh mãn tính của cải lương...

Nhiều đạo diễn than thở, tình hình hiện nay kiếm được kịch bản cải lương đã khó. Kiếm được kịch bản hay lại càng khó. Lấy kịch bản chuyển thể từ kịch nói vẫn là lựa chọn của các đoàn. Tuy nhiên, sự chuyển thể này nhiều khi khiến sân khấu cải lương tự làm khó mình, nếu như kịch bản gốc ấy đã được các đoàn kịch nói dàn dựng, biểu diễn. Đem đi biểu diễn một sản phẩm “cũ người mới ta” thì khó mà thuyết phục được khán giả. Ấy là chưa nói, đặc thù của kịch hát nói chung, cải lương nói riêng khác xa kịch nói. Vậy nên khi chuyển thể, tiết tấu kịch buộc phải sửa cho chậm lại. Lời thoại chuyển thành lời hát nên các cao trào không thể “nóng” như ở kịch nói.

Liên hoan diễn ra tại Trung tâm hội nghị và tổ chức sự kiện tỉnh Đồng Nai. Đêm khai mạc được truyền hình trực tiếp trên sóng VTV1. Đài Phát thanh và Truyền hình Đồng Nai liên tục cập nhật các vở diễn. Băng rôn được giăng đầy trên hầu hết các tuyến phố chính của thành phố Biên Hòa. Có thể nói, liên hoan đã được giới thiệu, quảng bá rộng rãi. Những ngày diễn ra liên hoan (diễn liên tục mỗi ngày 2 vở, sáng và tối), dù mở cửa tự do nhưng chỉ có những suất diễn vào các buổi tối cuối tuần là đông khán giả. Còn lại chủ yếu là “ta diễn mình xem”. Đa phần khán giả đến xem các vở diễn đều là người đứng tuổi.

Sau khi dự thi, nhiều đoàn đã được chính quyền, ngành văn hóa địa phương tạo điều kiện tổ chức đi biểu diễn phục vụ nhân dân ở các địa phương, các tổ chức, đơn vị quân đội trên địa bàn. Đây cũng chính là niềm vui đối với những người làm nghề, bởi sản phẩm nghệ thuật đã đến được với một lượng không nhỏ công chúng.

Một vị trưởng đoàn của một đoàn nghệ thuật đến từ miền Bắc nói rằng, liên hoan là để những người làm nghề có dịp hội ngộ, giao lưu với nhau, để ngành chủ quản ghi nhận những cố gắng, đóng góp của giới nghệ sĩ, tạo điều kiện để một số nghệ sĩ có huy chương. Đặt ra mục tiêu to tát lúc này là rất khó.

Bài và ảnh: THANH KIM TÙNG

 Bài 2: Tre đã già, măng chưa mọc