 |
|
Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam giới thiệu tranh Đông Hồ. |
Vào những ngày tháng Chạp, số ít người dân làng tranh Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) vẫn không quên cảnh nhộn nhịp ở chợ Hồ vào những ngày 6, 11, 16, 21, 26. Và không quên câu ca “Dù ai buôn bán trăm nghề/ Nhớ đến tháng Chạp thì về buôn tranh”. Nhưng, những ngày nhộn nhịp ấy không còn nữa. Tìm về với “hồn dân tộc”, tôi đã tìm gặp ông Nguyễn Hữu Sam – một trong những nghệ nhân cuối cùng của làng tranh Đông Hồ, một trong số ít người đang “níu giữ” “hồn dân tộc” trong thời nay.
Làng tranh Đông Hồ nằm nép mình bên bờ đê phía Nam của dòng sông Đuống. Tới đầu làng, khắp các ngõ giăng những “giấy hồng, giấy đỏ” để phục vụ cho nghề vàng mã chứ không phải giấy dó in tranh. Hỏi đến nhà làm tranh người ta chỉ nhắc đến hai cái tên: Nguyễn Hữu Sam và Nguyễn Đăng Chế.
Bước sang tuổi 78, nhưng nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam vẫn còn mạnh khỏe. Những bức tranh quen thuộc như: “Đám cưới chuột”, “Hứng dừa”, “Đánh ghen”... được treo kín trong gian nhà ngói hai chái của tổ tiên ông để lại. Ông nói với tôi:
- Vào những ngày này, làng Mái (tên cũ của làng tranh Đông Hồ) thật nhộn nhịp. Ngày Tết, nhà ai dù nghèo mấy cũng phải mua lấy bức tranh Đông Hồ. Chợ Hồ ngày ấy thật đông. Tôi cắp bút theo cha ra chợ, bày bán tranh.
Lên 7 tuổi ông đã theo nghề tranh. Ông không nhớ nhà đã có bao nhiêu đời làm tranh, ai hỏi ông chỉ biết trả lời “Sinh ra đã nhìn thấy tranh”. Cả cuộc đời ông dành trọn cho việc nghiên cứu, sưu tầm, phục chế tranh. Bên cạnh đó, ông còn sáng tác một số bức tranh được du khách đánh giá cao: “Múa quạt quan họ”, “Tấm áo mẹ vá năm xưa”, “Đến hẹn lại lên”...
Chợ tranh ngày xưa đã lùi dần vào dĩ vãng. Ông vẫn còn nhớ những ngày cả làng cùng họp để vực lại nghề tranh đang có nguy cơ “biến mất”. Một tổ hơn 50 người được ông tập hợp lại. Rồi hàng nghìn bản khắc gỗ năm xưa mang ra để lập thành một HTX sản xuất tranh. Bắt đầu từ năm 1990, thị trường tranh khó tiêu thụ, người làm ra không có người mua. Thú chơi tao nhã ngày nào của dân tộc cũng mất dần. Người dân trong làng kiếm nghề khác để sinh nhai. HTX không tuyên bố giải tán nhưng cũng chẳng còn. Nhưng gia đình ông vẫn quyết tâm giữ nghề. Ông kể:
- Tôi chưa bao giờ nghĩ mình có thể làm bất cứ một nghề nào khác ngoài làm tranh. Tôi hiểu, giữ nghề của làng cũng chính là giữ nghề của dân tộc.
 |
|
Ông Nguyễn Hữu Sam vẽ tranh cùng các cháu nội, cháu ngoại. |
Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam say sưa phân tích, giảng giải cho tôi ý nghĩa từng bức tranh:
- Cái làm nên nét độc đáo của tranh Đông Hồ chính là chất liệu làm tranh, được chế biến thủ công từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên. Giấy làm từ cây dó, màu đỏ từ gạch non, màu vàng từ hoa điệp vàng, màu đen từ lá tre đốt, màu trắng được nghiền từ vỏ sò, ốc… Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy, chúng tôi đã trộn thành nhiều màu khác nhau. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, chúng tôi phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô, quết điệp rồi lại phơi, khi in tranh phải in từng màu lần lượt. Nghĩa là tranh có bao nhiêu màu thì in bấy nhiêu lần. Mỗi lần in là một lần phơi… Cứ thế, dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày... như “bừng” sáng trên giấy dó. Mọi giai đoạn đều thật công phu nên đòi hỏi người làm tranh luôn cẩn trọng, cầu kỳ, chú ý đến từng chi tiết nhỏ để có được một bức tranh đẹp.
Hiện nay, nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam là Hội viên Hội văn nghệ Dân gian Việt Nam, hội viên Hiệp hội UNESCO Việt Nam. Ông được tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhì; Giải thưởng Bàn tay vàng và nhiều bằng khen, phần thưởng cao quý khác. Chỉ vào những tấm bằng khen, ông tâm sự:
- Đó là sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước. Tôi cũng chỉ biết cố gắng làm, gìn giữ vẻ xưa và để truyền cho con cháu. Thế hệ chúng tôi không thể sống mãi. Nhưng cái hồn cốt của dân tộc phải truyền, dạy cho con cháu để chúng tỏ tường. Không thì mất hết!
Ông có 3 người con trai, một người đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, hai người con ông cũng hướng theo làm tranh. 12 đứa cháu nội, cháu ngoại đều được chính tay ông hướng dẫn tỉ mỉ từng công đoạn nghệ thuật nghề làm tranh Đông Hồ.
Ông dẫn tôi đến xem xưởng sản xuất tranh của Nguyễn Hữu Quảng (con trai ông) thật bề thế. Phòng giới thiệu tranh được trưng bày đẹp mắt, bên trên là xưởng sản xuất. Anh Quảng xúc động nói:
- Tôi sinh ra đã được bố dạy cho làm tranh. Lớn lên đi học đại học rồi về cũng gắn bó với tranh. Bố tôi rồi cũng già yếu, anh em chúng tôi càng phải cố gắng gìn giữ nghề của gia đình. Ông vẫn thường dạy: “Nghề làng cũng là nghề nhà, các con giỏi hơn thì phải biết giúp đỡ người khác. Đã là nghề thì phải sống vì nghề mà chết cũng vì nghề”.
Cơ sở sản xuất tranh của gia đình ông Sam là điểm du lịch của nhiều tua du lịch trong và ngoài nước, thu hút khách tham quan, sinh viên mỹ thuật về đây tìm hiểu và học nghề. Chọn lấy một bức tứ bình thể hiện bốn mùa, cầu mong một cuộc sống bình yên, hạnh phúc, bạn Nguyễn Quý Dương tâm sự:
- Người ta thường nói “Trăm nghe không bằng một thấy”. Khi thấy rồi tôi mới cảm nhận được nét đặc sắc của một làng nghề đã có từ nhiều đời.
Đến với chợ Hồ người ta không còn được thấy cảnh tấp nập mua, bán nữa, cũng không còn cảnh người người, nhà nhà đổ xô mua tranh như xưa. Đây đó trong làng nghề vẫn đang có “bảo tàng sống” gìn giữ từ đời này sang đời khác để nghề không mất mát, ấy là nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam. Trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” nhà thơ Hoàng Cầm đã tự hào khi nhắc một nghề truyền thống của vùng Kinh Bắc như mãi còn:
“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.
Bài và ảnh: LÊ HỒNG VÂN