Tôi lại xuống tàu ở ga Xép.
Một mình một túi khoác, tôi leo đèo Eo Bát lúc mặt trời gác núi. Hoàng hôn miền rừng xuống rất nhanh. Gió núi rười rượi thổi. Lao xao, rập rờn lau lách hai bên đèo. Đèo Eo Bát bị xẻ toác ra. Đá hòn, đá lớp, đá ghềnh bị bạt hết làm đường to…
Ngày xưa nơi đây là cửa rừng.
 |
|
Minh hoạ: Phùng Minh |
Chủ nhật, tôi thường theo mẹ gánh cỏ gianh, khoác níp củ mài từ rừng đi qua đèo Eo Bát này về nhà. Hai bên đèo là đồi núi dựng đứng như thành, con đường mòn chạy chính giữa. Đường mòn chạy trên đất vàng sẫm lẫn sỏi, chạy trên ghềnh đá, trập trùng ghềnh đá. Đứng ở đỉnh đèo nhìn lên chỉ thấy trời xanh. Cửa rừng nhưng cũng là cửa gió. Quanh năm, gió rừng hun hút thổi. Bên cạnh lối đi có một cây sồi già. Thợ sơn tràng thường ngồi nghỉ dưới gốc sồi lấy sức để vào rừng hoặc xuống núi. Bây giờ, cây sồi vẫn còn, gốc gân guốc, vỏ mốc thếch. Cây sồi già đã chứng kiến khoảnh khắc bồng bột, gấp gáp, cuồng nhiệt của tôi và Sinh từ ngày xưa ấy, chứng kiến mọi đổi thay ở cửa rừng.
Dạo ấy, có một doanh trại bộ đội ở bên kia đồng Cỏ, sát chân đồi con Rùa. Lính mới trẻ măng. Quân hàm đỏ chót. Sao bạc sáng lấp lánh. Quân phục xanh như lá rừng. Họ lấy vỏ quả bom bi mẹ làm kẻng. Lính trong doanh trại học tập, rèn luyện, ngủ nghỉ nhất nhất đều theo lệnh kẻng. Báo thức: kẻng. Ăn sáng: kẻng. Ra bãi tập: kẻng. Lên giường ngủ: kẻng… Tiếng kẻng bộ đội quen đến mức dân xóm Núi và bản Mường nghe là biết mấy giờ. Ngày nào cũng nghe, nghe mãi thành thói quen của cả vùng. Sáng, nghe tiếng kẻng báo thức là tỉnh ngủ. Chiều tối, đang ở rừng nghe tiếng kẻng là bảo nhau về nhà. Đêm, nghe tiếng kẻng ngủ là vợ chồng, con cái bảo nhau tắt đèn chui lên giường. Tiếng kẻng doanh trại lính đi vào đời sống sinh hoạt quê tôi rất nhuần nhụy, tự nhiên. Sau này, bộ đội rút đi hết, họ tặng doanh trại cho xã làm trụ sở Ủy ban. Tiếng kẻng không còn vang lên khi sáng sớm, lúc chiều tà nữa. Lòng tôi mênh mang, trống vắng vô cùng. Người dân quê tôi nhớ tiếng kẻng thao thức không ngủ. Dạo đó, đồi con Rùa là bãi tập của lính. Lúc giải lao, họ giá súng và vật nhau, đùa vui hoặc ôm đàn ghi-ta gảy, hát rống lên, ở bên này đầm Vạc cũng nghe được. Lúc đầu, trẻ chăn trâu, chăn ngựa lạ lẫm, sau thành quen. Chúng lân la, sán lại gần, ngồi chồm hỗm hoặc nằm bệt xuống cỏ, chống tay lên má, há hốc miệng nghe hát. Tôi ở rừng về thỉnh thoảng gặp lính trẻ hành quân đi ngược chiều, họ trêu đùa làm tôi xấu hổ đỏ bừng mặt. Lính ở chân đồi con Rùa hay đi hành quân dã ngoại đường dài hoặc khoác đất rèn luyện. Hành quân dã ngoại đường dài thường đi rất sớm. Năm giờ sáng, báo thức. Một lúc sau đã thấy họ khoác súng, đeo bao gạo, xẻng và ba lô xanh lá ngụy trang hành quân qua ngõ nhà tôi. Chiều tối họ về. Mũ cối nhấp nhô. Lá ngụy trang xanh rập rờn. Đội hình hành quân dài như con rồng đất, theo đường mòn quanh co, uốn lượn. Thỉnh thoảng anh thiếu úy đi cạnh hàng quân, lấy giọng hô to: Luyện vai trăm cân. Lính hành quân đáp lại: Luyện chân ngàn dặm. Anh thiếu úy hô tiếp: Thanh niên sẵn sàng. Lính hành quân đồng thanh ngân dài: Vào Nam đánh My…ỹ. Tôi cảm nhận được lòng mình xốn xang, náo nức. Lúc ấy, tôi ước ao là con trai, tôi sẽ khoác ba lô đi trong hàng quân ấy. Những người lính mới trẻ măng đến huấn luyện rồi lại đi, hết đợt này đến đợt khác. Họ đi đến những chiến trường xa lắc. Lính ở chân đồi con Rùa khổ nhất là lúc khoác đất hành quân rèn luyện. Mỗi người tự đan một cái sọt có ba chân đựng đất rèn. Đất lấy ngay cạnh đầm Vạc, nhào kỹ, nặn thành ba hòn và phơi khô: Một hòn đất mười lăm cân. Một hòn đất mười cân. Một hòn đất năm cân. Những ngày đầu lính mới chưa quen chỉ khoác hòn đất rèn mười lăm cân. Sau này, tùy sức khỏe mà bỏ thêm hòn đất mười cân hay năm cân. Một tuần hai buổi khoác đất hành quân rèn luyện, đi theo con đường qua ngõ nhà tôi. Họ đi từ nhập nhoạng tối đến khoảng chín giờ đêm thì về doanh trại…
Bây giờ, chiến tranh đã lùi xa. Doanh trại bộ đội ngày xưa mất hết dấu vết. Không còn lớp lớp lính trẻ măng hành quân đi ngang ngõ nhà tôi nữa. Tất cả chỉ còn trong ký ức.
Tôi thẫn thờ đứng trước ngõ nhà mình. Căn nhà cũ kỹ lợp rạ vẫn còn nguyên dáng hình. Tôi nghe rõ tiếng cối gạo nhẩn nha thọp… thọp… bên hàng xóm. Đàn dê nhà tôi mới đi ăn về đang nhảy cỡn trong sân đất tranh nhau vào chuồng. Cây gạo cổ thụ trong vườn xù gai vươn cành khẳng khiu lên nền trời đang xam xám tối.
Đêm miền rừng.
Tôi thao thức hoài. Mẹ cũng lục tục dậy dỡ chõ xôi đã chín. Tôi ra ngồi ở bậc cầu thang nhà sàn, nhìn lên bầu trời. Trăng miền rừng gầy và xanh xao hơn trăng thành phố. Sao thưa thớt, nhấp nháy không biết mệt. Trời đêm cao hơn, xa xăm, vời vợi. Cũng đêm trăng thế này hai chục năm trước, tôi đã gặp Sinh. Cuộc gặp bất ngờ, lạ kỳ cứ ám ảnh suốt cuộc đời tôi, để rồi anh nằm lại ở chiến trường, mãi mãi không về.
Hôm ấy, ăn cơm xong một lúc thì tôi đến khe Nước tắm. Mẹ bảo tôi: Tiện thể đem ống bương theo, tắm xong vác luôn nước về. Tôi dầm mình vào nước khe trong mát. Khe Nước chỗ cạn chỗ sâu, tôi bơi ra chỗ sâu nhất vẫy vùng. Cơn mệt mỏi từ buổi chiều đi rừng lấy măng mất hẳn. Đêm vắng. Khe vắng. Và trăng thanh. Tôi ngây ngất mùi hương hoa dại, mùi cỏ nước thơm thoảng dưới trăng ngàn. Bỗng dưng, tôi bị chuột rút. Hai bắp tay co cứng. Không bơi được nữa, hai chân quẫy đạp tuyệt vọng, mỗi lần kêu cứu là nước ộc vào miệng. Người tôi trồi lên chìm xuống. Me… ẹ ơi! Cư… ứu con! Tôi kêu mẹ trong lúc khốn cùng. Và một thoáng nghĩ đến cái chết lướt nhanh trong đầu.
Sinh khoác ba lô một mình đi qua khe Nước. Anh có mặt lúc tôi đang nghí ngóp sắp chìm hẳn. Sinh để nguyên quần áo lao xuống khe Nước vớt tôi lên. Anh vác tôi trên vai, quàng tay ôm chặt hai đùi tôi chạy. Đầu dốc xuống đất, nước trong bụng tôi ộc ra miệng theo mỗi bước chạy của anh… Sau này, Sinh kể như thế, tôi thầm cảm ơn anh và ngượng ngùng, xấu hổ. Tôi hình dung tiếp theo lúc ấy, anh đặt tôi trên nền cỏ xanh. Anh cuống quýt cúi xuống và hút nước trong miệng, mũi tôi. Đôi bàn tay anh cứng cáp quen cầm súng, cầm xẻng đào công sự gấp gáp ấn mạnh từng nhịp lên bộ ngực non căng mẩy của tôi, làm hô hấp nhân tạo… Không dám tưởng tượng thêm nữa, bởi tôi chợt nhớ lúc đó tôi chỉ mặc bộ đồ lót trên người…
Sáng hôm sau, mẹ dẫn tôi đi tìm người lính đã cứu con gái mình. Doanh trại lính vắng tanh vắng ngắt. Cả đại đội hành quân dã ngoại chưa về. Bếp nuôi quân dã chiến khói xanh bay cuộn lên hình cây nấm linh chi. Thấp thoáng vài ba bóng quân phục đi ra đi vào doanh trại. Anh thiếu úy trẻ trực chỉ huy ở nhà chăm chú nghe mẹ tôi trình bày. Anh thiếu úy rất sửng sốt, không tin chuyện đã xảy ra.
Được tiểu đoàn cho đi tranh thủ thăm mẹ ốm, tối qua Sinh về doanh trại rất muộn. Muộn vì bất ngờ bắt gặp tôi tắm và cứu tôi thoát chết, vậy mà anh đã giấu. Anh trình bày lý do về muộn hai giờ đồng hồ là do tàu chậm. Nhưng anh đã quên rằng: tàu về ga từ sáu giờ tối. Lúc điểm danh ở doanh trại vẫn nghe tiếng còi tàu tu tu. Đi lối tắt qua đèo Eo Bát về doanh trại chỉ hết một giờ đồng hồ. Không thể chậm hơn! Đại đội bắt làm kiểm điểm, thuyên chuyển xuống tổ nuôi quân và phạt bổ củi một ngày.
Tôi chạy vội đến chỗ Sinh đang bổ củi. Anh cởi trần, ngực vạm vỡ vồng lên. Mồ hôi nhễ nhại. Mặt đỏ bừng vì nóng. Cái vòng bạc tôi tặng đêm hôm qua, lấp lánh ở cổ tay anh. Tôi trào nước mắt. Thương anh đến nao lòng. Chỉ vì tôi mà Sinh đã nên nông nỗi này…
Dạo ấy, tôi đang học năm cuối cùng bậc phổ thông. Sáng nghe tiếng kẻng của bộ đội, tôi dậy ngay và đi bộ xuống trường huyện kịp bảy giờ học. Gần trưa, học xong lại lóc cóc đi bộ từ phố huyện về xóm Núi. Đi học, đi rừng, tôi không biết mệt là gì. Bạn bè bảo tôi đẹp. Cái đẹp của cô gái mười bảy tuổi. Mặt trái xoan, lúc nào cũng trắng hồng. Tóc cắt ngắn ngang vai. Ngực cao, đầy đặn. Eo thắt. Mắt tròn, to, mơ màng. Tính tôi vui vẻ, nồng nhiệt. Quen rồi thân, tôi và Sinh yêu nhau lúc nào không biết. Các buổi sáng chủ nhật bộ đội phải đi rừng lấy củi giúp anh nuôi. Buổi chiều được nghỉ, tôi và anh leo núi Lò Vôi, hoặc đi dọc khe Nước chơi.
Mẹ biết chúng tôi yêu nhau. Mẹ không ngăn cản, nhưng băn khoăn vì tôi còn trẻ quá. Mười bảy tuổi, tôi chưa học hết phổ thông. Chiến tranh không biết bao giờ kết thúc. Cha tôi đi bộ đội mười năm rồi mãi mãi nằm lại nơi trận mạc. Mẹ tôi đã bạc tóc bởi sống những tháng ngày dài dằng dặc tuyệt vọng chờ chồng. Nỗi đau mất chồng nay thêm nỗi lo cho con gái…
Tôi lấy chồng. Chồng tôi chưa một ngày biết đến chiến tranh. Thời trai trẻ của Sinh là ở rừng núi và chiến trường. Thời trai trẻ của chồng tôi ăn học ở Đông Âu. Chồng tôi sống rất hiện đại, là người thành đạt, kiếm nhiều tiền.
Đêm tân hôn, tôi đã quỳ xuống trước mặt chồng, xin tha thứ. Anh dìu tôi dậy và ôm chặt vào lòng: “Đã sống nhiều năm ở nước ngoài, anh không nghĩ chuyện sinh hoạt nam nữ trước hôn nhân là vấn đề đạo đức. Anh yêu em là yêu con người em đang ở trước mặt anh đây. Anh chỉ yêu cầu em tống khỏi đầu cái hình ảnh thằng nào đã ngủ với em”. Tôi thành thật: “Anh hãy cho em thời gian”. Và tôi đã kể lại mối tình với người lính ra trận không về cho chồng nghe. Người ta bảo: Trong đời sống vợ chồng, có lúc phải biết nói dối mới bảo vệ được hạnh phúc. Nói dối lúc đó không phải là tội lỗi. Tôi không biết nói dối. Chồng tôi bảo: “Anh biết em vẫn còn nhớ đến Sinh”. Tôi luôn thành thật với chồng: “Vâng! Em chưa thể quên ngay được người lính ấy. Nhưng anh đừng ghen với người đã hy sinh”. Chồng tôi nói từ tốn, nhỏ nhẹ: “Anh không ghen, nhưng đừng để thân xác em ở bên chồng còn tâm hồn em dành cho người đã chết”. Năm này qua năm khác, tôi luôn mặc cảm với chồng. Chồng tôi bảo: “Anh phải làm gì để hồn vía Sinh đừng ám ảnh em nữa nhỉ? Hay là anh sống với em tệ quá không bằng những gì người lính ấy mang lại cho em…”. Tôi vội vã giơ tay bịt miệng anh lại: “Đừng, anh đừng nghĩ thế. Anh là người chồng rất tử tế”.
Tình cờ, chồng tôi bắt gặp quyển nhật ký của Sinh, và cái vòng bạc tôi tặng Sinh đeo ở tay trước ngày vào chiến trường. Người ta vất vả lắm mới đem được hai di vật ấy từ mặt trận đưa lại cho tôi theo lời Sinh nhắn trước lúc hy sinh. Đến khi này thì chồng tôi làm ầm lên. Chồng tôi bảo: “Như vậy là em đang ngoại tình với người đã chết”. Thế rồi chúng tôi cãi nhau. Chồng tôi yêu cầu không để bất cứ cái gì liên quan đến Sinh trong đầu tôi và cả trong nhà nữa. Để cứu vãn cuộc hôn nhân có nguy cơ tan vỡ, tôi hứa làm theo ý chồng. Từ đó căn nhà bình yên và chồng tôi im lặng, không hề đả động đến chuyện cũ. Tôi cố xóa hình ảnh Sinh trong đầu, nhưng không xóa được. Tôi nằm bên chồng, cả khi ân ái vẫn nhớ đến Sinh. Chồng tôi biết vợ mình vẫn nặng lòng với quá khứ; nhưng anh tảng lờ coi như không biết. Từ nóng nảy làm to chuyện sang im lìm, lặng lẽ. Tôi bắt gặp ánh mắt của anh, ánh mắt như muốn nói: “Cô đang ngoại tình với người đã chết. Tôi biết tỏng tòng tong rồi”. Trời ơi! Sống với nhau như thế này thì khổ quá…
Tôi vẫn nhớ như in cái buổi tối định mệnh ấy ở cửa rừng, ở dưới gốc cây sồi già. Linh cảm trong tôi đến từ cuối buổi chiều. Doanh trại bộ đội không có tiếng kẻng ăn cơm, không có kẻng đi ngủ tối. Có chuyện rồi! Trong lòng tôi như lửa đốt. Nôn nao không chịu được, tôi liền chạy một mạch đến doanh trại của Sinh. Tối om, chỉ một vài chỗ thắp đèn chai tù mù thấp thoáng bóng người. Họ là những người lính được phân công ở lại coi doanh trại. Tôi hỏi thăm. Một người nói nhỏ, giọng chán nản, buồn bã: “Đi rồi! Đi hết sạch rồi!”, và bảo tôi về để họ đóng cổng doanh trại. Trống ngực to hơn trống làng, tôi bưng mặt khóc. Sinh đi rồi! Sinh đi như những người lính trẻ đã từng đến đây tập luyện rồi lại đi chiến trường, đi mãi.
Lao ra ga Xép. Tôi chạy, chạy cuống quýt. Gió thổi hai bên tai. Đá sắc, gai đâm dưới chân
|
Chủ nhật, tôi thường theo mẹ gánh cỏ gianh, khoác níp củ mài từ rừng đi qua đèo Eo Bát này về nhà. Hai bên đèo là đồi núi dựng đứng như thành, con đường mòn chạy chính giữa. Đường mòn chạy trên đất vàng sẫm lẫn sỏi, chạy trên ghềnh đá, trập trùng ghềnh đá. Đứng ở đỉnh đèo nhìn lên chỉ thấy trời xanh. Cửa rừng nhưng cũng là cửa gió. Quanh năm, gió rừng hun hút thổi. Bên cạnh lối đi có một cây sồi già. Thợ sơn tràng thường ngồi nghỉ dưới gốc sồi lấy sức để vào rừng hoặc xuống núi. Bây giờ, cây sồi vẫn còn, gốc gân guốc, vỏ mốc thếch. Cây sồi già đã chứng kiến khoảnh khắc bồng bột, gấp gáp, cuồng nhiệt của tôi và Sinh từ ngày xưa ấy, chứng kiến mọi đổi thay ở cửa rừng. |
đau nhói. Tôi vẫn chạy, chạy lối tắt qua đèo Eo Bát. Cửa rừng hun hút gió. Bất chợt, tôi nhìn thấy một bóng người cũng đang huỳnh huỵch chạy ngược chiều. Chúng tôi nhận ra nhau. Tôi đổ nhào vào lòng Sinh. Sinh thở dốc, nói:
- Đơn vị anh hành quân đi vào Nam.
Tôi thấy mình bị bỏ rơi. Tôi oan ức, tủi thân, đấm liên hồi lên vai lên ngực anh:
- Sao anh không báo cho em.
- Anh cứ tưởng hành quân tập luyện như mọi khi. Ai ngờ, đến ga Xép, họ phổ biến lệnh hành quân vào Nam. Đơn vị đang chờ tàu, anh gửi ba lô và lén khỏi sân ga chạy về chia tay em.
Lạy trời đất, thần linh phù hộ! Các đấng linh thiêng đã chia đôi quãng đường để Sinh chỉ phải chạy một nửa, còn tôi đỡ cho anh một nửa. Chúng tôi đã gặp nhau ngay cửa rừng, giữa đèo Eo Bát. Sinh thở hổn hển:
- Em chơ… ờ anh nhá!
- Vâ… âng! Bao giờ anh sẽ về?
- Nhanh thôi! Tết này… Cùng lắm là sang năm. Không! Sang xuân anh sẽ về.
Tôi gục đầu vào bộ ngực nở nang, vâm váp của Sinh. Sinh vòng hai tay ôm chặt lấy tôi. Mùi mồ hôi quen thuộc. Ấm áp. Dễ chịu. Rồi tôi thấy người mình nóng ran. Lồng ngực căng cứng tưởng như nghẹt thở. Chúng tôi quấn vào nhau dưới gốc cây sồi già. Bên ngoài: Gió vẫn thổi. Ngàn lau phơ phất. Chim rừng đi ăn muộn đang về thảng thốt kêu. Và cây sồi già oặn mình rung lá.
Chúng tôi buông nhau ra khi tiếng còi tàu tu tu từ ga Xép vọng đến. Sinh hốt hoảng: “Anh phải đi kẻo chậm mất”. “Cho em đi theo với”. “Không được đâu!”. Sinh bắt tôi phải quay về. Tôi không chịu. Lúc ấy, tôi chỉ muốn đi theo anh cùng trời cuối đất. Sinh chạy trước, tôi chạy sau, thỉnh thoảng anh dừng lại chờ tôi. Chúng tôi đến ga Xép thì bộ đội đã lên tàu hết rồi. Sinh nhào lên cửa tàu trong tiếng càu nhàu của bạn lính và tiếng quát tháo của một người chỉ huy.
Con tàu chở màu xanh rùng mình từ từ rời ga. Tôi lật đật chạy theo. Sinh ngoái đầu ra khỏi ô cửa tàu hỏa: “Miên… Miên ơi! Sang xuân anh sẽ về!”. Tôi cuống quýt: “Vâng! Anh Sinh ơi! Em chờ… ờ…!”. Tôi thẫn thờ nhìn con tàu xuôi về Nam. Con tàu đang chở Sinh và đồng đội của anh đi chiến trường, không biết ngày trở lại. Tôi rưng rưng nước mắt. Bất chợt! Rất nhiều cánh chim trắng loang loáng trước mắt tôi và chao liệng bên con tàu. Bao nhiêu lời chúc tụng, lời nhắn gửi, lời hát… của những người lính trẻ trên tàu vang lên mà tôi nghe không rõ. Tôi đứng nhìn theo đến khi con tàu vào Nam khuất hẳn. Sân ga và dọc đường tàu trắng xóa những cánh chim trắng vừa rơi. Những người đi đường cúi xuống nhặt. Tôi cũng cúi xuống nhặt. Hóa ra là thư của những người lính trẻ viết vội vàng từ biệt gia đình, người thân. Nhiều phong thư chưa kịp dán tem, nhiều lá thư chưa có phong bì. Tất cả đều viết nguệch ngoạc, vội vàng và nhờ người đi đường gửi hộ…
*
* *
Tôi ra ga Xép trở về thành phố. Mẹ tiễn chân tôi đến cửa rừng ngày xưa. Mẹ tôi bảo: “Bu biết mày nặng lòng với ngày xưa quá, Miên ạ. Tết nhất đến nơi rồi. Về với chồng con. Đừng lo cho bu”. “Vâng! Thôi bu về đi”.
Tôi lại về với chồng. Tôi về với con tôi. Tôi sẽ kể nốt cho chồng tôi nghe rằng: Ngày ấy, tôi đã xin tiền của mẹ mua tem và phong bì. Tôi đã nằm bò trên sàn nhí nhoáy ghi tên người và địa chỉ nhận thư. Tôi đã gửi giúp những người lính trẻ không biết bao nhiêu lá thư tới gia đình, người thân của họ.
Tôi thẫn thờ đi bộ qua đèo Eo Bát. Tôi ngồi nghỉ dưới gốc cây sồi già. Ngày xưa lại rưng rưng hiện về. Ngày xưa ơi! Ngày xưa, nơi đây là cửa rừng. Cửa rừng hun hút gió. Gió thổi mãi. Gió thổi hoài. Tôi ngước nhìn lên. Cây sồi già đang trở mình rung lá.
Tam Điệp, ngày mở cửa rừng
Truyện ngắn của SƯƠNG NGUYỆT MINH